Lê Xuân Tê
Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến. Câu ca dân gian xưa và sự tồn tại qua thời gian của các địa danh cổ, như Bến vạn, Bến đá, Vạn độ bản xã phường, Vạn mãi thị, Vạn Lai triều, Tiểu Ngư thị,… đã nói lên thời thịnh đạt của một đô thị: đó là Phố Hiến.
Phố Hiến xuất hiện vào lúc nào, điểm cực thịnh, thời gian suy giảm đã có nhiều nghiên cứu đánh giá. Tuy nhiên vẫn rất cần các nghiên cứu, khảo sát sâu và kỹ lưỡng để thấy được tính toàn diện, rộng khắp, kỹ càng hơn, và tiếp tục khẳng định được dấu ấn lịch sử, vang bóng một thời, sự sầm uất, hào hùng của cảng thị Phố Hiến - Hưng Yên xưa, đồng thời phát huy được mạnh mẽ hơn nữa truyền thống Hưng Yên, để “Hưng Yên cảng thị xưa - Hưng Yên ngày nay vươn xa ra biển lớn”.
1 – Vài nét Phố Hiến xưa
Phố Hiến hình thành từ bao giờ? Vì sao có tên gọi là “Hiến” ? Đó là câu hỏi được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm lời giải đáp. Cho đến nay, giả thuyết về xuất xứ tên gọi dân gian “Phố Hiến” liên quan đến cơ quan “Hiến ty” vẫn có cơ sở tư liệu nhất định mà nhiều người chú ý, đi sâu khai thác, tìm hiểu.
Hiến ty - còn gọi là “Hiến sát sứ ty”, là một trong ba cơ quan (Tam ty) đứng đầu địa phương thời Hậu Lê (1428 - 1788), cùng với “Thừa chính sứ ty” (còn gọi là Thừa ty), và “Đô tổng binh sứ ty” (tức Đô ty, sau là Trấn ty). Hiến sát sứ ty được đặt đầu tiên năm 1471, dưới triều Lê Thánh Tông (1460 - 1479), tại cả 13 đạo, trong đó có Sơn Nam thừa tuyên[1]. Sách sử triều Nguyễn cũng đã giải thích tên “Hiến Doanh” thế kỷ XVIII: “vì là lỵ sở của ty Hiến sát sứ trấn Sơn Nam hồi cố Lê, nên gọi như vậy, nay [thời Nguyễn] thuộc xã Nễ Châu, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên”[2].
Sự phát triển của Phố Hiến phụ thuộc rất nhiều vào sự biến động, di chuyển của lỵ sở Hiến sát sứ Sơn Nam và vào sự hình thành, phát triển, di biến động do sự tụ cư của vùng đất cổ nơi đây. Sự hội tụ và phát triển của cư dân vùng đất cổ Đằng Châu - Khoái Lộ từ khá sớm, thế kỷ XIII, về sau có sự tham góp của các “cựu Tống nhân” (cư dân đời Tống, Trung Hoa), hình thành lên làng cổ Hoa Dương[3]. Đến nửa sau thế kỷ XV, sự sinh sôi đông đúc của dân thôn đã khiến quan viên địa phương đem hợp (sáp nhập) với thôn Nhân Dục và nâng lên thành thôn Hoa Dương, thuộc xã Nhân Dục. Đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, khu vực huyện Kim Động, phủ Khoái Châu đã nức tiếng với “danh thị” một cái chợ nổi tiếng là chợ Hiến “Hiến thị” có trong thư tịch và bi ký.
Tác phẩm “Hoan Châu ký” cuối thế kỷ XVII, có ghi nhận sự việc vào năm 1576, lái buôn [người] Hoan Châu lên Trường An (kinh đô Thăng Long) giả danh là người “chợ Hiến đất Sơn Nam” (Sơn Nam Hiến thị)[4]. Tấm bia “Thiên Ứng tự”, dựng năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625), tại chùa Hiến (nay là phường Hồng Châu, thành phố Hưng Yên), có ghi: “Nhân hữu kiên ngôn Hoa Dương danh lý, nãi Hiến Nam Án sát nhất thừa tuyên dã, nhi Hiến Nam danh thị hựu tứ phương đô hội tiểu Tràng An dã”[5]; (có người quả quyết rằng làng Hoa Dương nổi tiếng kia là nơi đặt trị sở của ty Án sát, Hiến Nam đứng đầu thừa tuyên [Sơn Nam], mà chợ Hiến Nam danh tiếng kia cũng là chốn đô hội Tiểu Tràng An của bốn phương vậy).
Sự hình thành của Phố Hiến gắn chặt với việc lưu trú của khách thương nước ngoài và chính sách ngoại kiều từ triều đình Thăng Long; khi nhà Lê – Trịnh có lúc thi hành lệnh “ngăn cấm”, có lúc lại “nới lỏng” vấn đề quản lý người ngoại quốc ở Thăng Long – Kẻ Chợ; đồng thời việc phát triển, hưng thịnh của Phố Hiến cũng liên quan nhiều đến việc triều đình bổ nhiệm Lê Đình Kiên (1620 - 1704) làm Trấn thủ Phố Hiến. Lịch sử hình thành Phố Hiến cũng gắn liền với sự tụ cư và phát triển của người Trung Hoa tại xứ sở này, trước đây Phố Hiến còn được gọi là phố Khách, điều đó nói lên tính trội của yếu tố Hoa (Hoa kiều) tại cảng thị Phố Hiến.
2 – Hiến cảng một thời sầm uất
Ban đầu Phố Hiến chỉ là một ngôi chợ, nơi trao đổi các sản phẩm nông nghiệp, thủ công và một số hàng hoá Trung Quốc. Do vị trí giáp sông Hồng, thuận đường xuôi Vị Hoàng (Nam Định) và lên Kinh Kỳ (Hà Nội), Phố Hiến sớm trở thành chợ và bến cảng (Quibenhu), nơi tụ tập các thuyền buôn của người Hoa và người Việt. Cho đến thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, Phố Hiến trở thành một thị trấn đông vui, vừa là nơi đỗ thuyền của khách thương, có chợ có phường, vừa là lỵ sở của trấn Sơn Nam.
Theo nhiều nghiên cứu, muộn nhất là đầu thế kỷ XVII, Phố Hiến đã trở thành một “danh thị”, một “tiểu Tràng An”. Nhưng theo văn bia phía đông chùa Hiến thì bấy giờ Phố Hiến mới gồm có 2 phường Phú Lộc và Phúc Lộc, cùng một chợ. Bài minh của bia, khi xác định vị trí của chùa, đã viết: Tả phường, hữu lý/ Tiền thị, hậu trang. Nghĩa là, bên trái là các phường, bên phải là xóm, phía trước là chợ, phía sau là trang (tức trang Hoa Điền thuộc thôn Hoa Dương). Mỗi phường đều có một trùm trưởng phụ trách chung và một cấp phó giúp việc.
Chúng ta biết rằng, ở các thế kỷ XVI, XVII, sự giao lưu buôn bán giữa các nước ở vùng biển Đông ngày càng trở nên nhộn nhịp. Các thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản và sau đó Bồ Đào Nha, Hà Lan đến bờ biển Việt Nam ngày càng nhiều mà nhà Lê – Trịnh thì chủ trương ngăn cấm việc ra vào tự do của ngoại kiều ở kinh đô. Vì thế Phố Hiến trở thành một nơi trú chân quan trọng của thương nhân nước ngoài. Mặt khác, tình hình nội loạn ở Trung Quốc thế kỷ XVII càng tạo điều kiện cho người Trung Quốc phiêu bạt xuống phương nam ngày càng đông. Họ đã theo thuyền đến Phố Hiến và nhiều người đã ở lại đây. Gia phả các dòng họ Tiết, họ Lâm, họ Hoàng… ở thành phố Hưng Yên hiện nay đã chứng tỏ điều đó. Thuyền trưởng tàu Hà Lan Grol là Karl Hartsink vào Phố Hiến năm 1637 cũng thừa nhận rằng ở đây “người Trung Quốc sống rất đông”. Khu phố Bắc Hoà xuất hiện và mở rộng thành 3 phố: Thượng, Trung, Hạ, chiếm hầu hết vùng đất của Phố Hiến cũ khiến cho nhiều nhà nghiên cứu đồng nhất Phố Hiến và Phố Khách – nghĩa là một đô thị của người Hoa. Việc đi lại và cư trú tự do của Hoa Kiều đã buộc chúa Trịnh, năm 1663 (Cảnh Trị 1) phải ra lệnh buộc họ hoặc nhập quốc tịch Việt Nam hoặc ghi tên vào sổ hộ của địa phương, không được tuỳ tiện như trước. Năm 1696, chúa Trịnh lại hạ lệnh cho người Hoa phải theo phong tục Việt. Nhằm ổn định sinh hoạt của Phố Hiến, Thừa chính sứ Sơn Nam Lê Đình Kiên đã lấy 27 mẫu 2 sào 1 thước 1 tấc ruộng công ở hai làng An Vũ và Nhân Dục cấp cho người Hoa làm nhà ở, xây đền chùa. Theo hai bia tây chùa Hiến và chùa Chuông thì số hộ Hoa Kiều ở đầu thế kỷ XVIII là khoảng vài trăm hộ. Trên đất Bắc Hoà, giữa phố Thượng và phố Hạ hình thành bến cảng Vạn Lai Triều, nơi mà nay còn mang tên Dốc Đá (nơi bốc hàng). Hoạt động buôn bán ở đây tấp nập, được thể hiện ở mấy câu thơ: Bến Nễ Độ gió nâng thuyền gấm/ Phố Bắc Hoà nguyệt ngắm rèm the/ Thú đô hội trong ngoài chẳng thiếu/ Vạn Lai Triều là tiểu kinh đô.
Ngay từ những năm 70 – 80 của thế kỷ XVI, các thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan đã chú ý đến Phố Hiến. Nhưng mãi đến tháng 3 năm 1637, chiếc thuyền Grol của Hà Lan mới cập bến Đàng Ngoài và tháng 7 năm đó, thuyền trưởng Karl Hartsink được phép dựng thương điếm ở Phố Hiến. Hàng hoá chở đến trị giá khoảng 190.000 florings. Việc buôn của người Hà Lan ở đây khá thịnh đạt. Họ bán hàng và mua chủ yếu tơ lụa để chở đi. Vào cuối những năm 60, người Pháp cũng bắt đầu đặt thương điếm ở Phố Hiến. Nhờ đó, tháng 8 năm 1670, giáo sỹ Lamotte Lambert đã lập toà Giám mục đầu tiên ở đây. Vì vậy, hai năm sau, 1672, người Anh thừa nhận ở Phố Hiến “đã có một ngôi nhà của người Pháp không rõ để buôn bán hay truyền giáo”. Năm 1673, thuyền buôn của Anh được phép vào Phố Hiến và thương điếm của W. Gyfford được thành lập. Có thể cho rằng sự có mặt của các thương gia ngoại quốc: tính theo thời gian mở - đóng các thương quán của Công ty Đông Ấn Hà Lan (1637 - 1700), Công ty Đông Ấn Anh (1672 - 1697), Công ty Đông Ấn Pháp (1681 - 1686),… trong đó công ty hoạt động sớm nhất và có hiệu quả nhất trong số các công ty Tây phương là Công ty Đông Ấn Hà Lan, đã góp phần làm khởi sắc bộ mặt của Phố Hiến thế kỷ XVI, XVII. Người ngoại quốc, người Việt, với các hoạt động giao thương, phát triển kinh tế hàng hoá, đã làm cho cư dân Phố Hiến ngày càng tăng, khoảng vài ngàn hộ, như Đại Nam nhất thống chí đã ghi: “ở đây… phong vật phồn thịnh, nhà ngói như bát úp[6]”, các thương nhân, các thợ thủ công, người lao động, sự trung chuyển hàng hoá, ngày càng đông, ngày càng tấp nập, trên bến dưới thuyền.
Các văn bia tây chùa Hiến (1709) và bia chùa Chuông (1711), đều địa phận Phố Hiến, đã cho chúng ta biết ở giai đoạn đó Phố Hiến đã có 20 phường: 1 – Cựu Đê thị (Phường Đê cũ); 2 – Ngoại Đê thị (Phường Ngoài đê); 3 – Thuỷ đê nội thị (Phường Trong đê mới); 4 – Hà khẩu thị (Phường Cửa sông); 5 – Hậu bi thị (Phường Bia hậu); 6 – Thuỷ giang nội thị (Phường Thuỷ giang nội); 7 – Thuỷ giang ngoại thị (Phường Thuỷ giang ngoại); 8 – Hàng nhục phường (Phường Hàng thịt); 9 – Vạn mới thị (Phường Vạn mới); 10 – Hàng sũ phường (Phường Hàng sũ); 11 – Nhiễm tác phường (Phường Thợ nhuộm); 12 – Thổ oa thị (Phường Nồi đất); 13 – Mộc lang phường (Phường Hàng cau); 14 – Hàng chén thị (Phường Hàng chén); 15 – Hàng cá phường (Phường Hàng cá); 16 – Thuộc bì thị (Phường Thuộc da); 17 – Hoa lạp thị (Phường Hàng nón); 18 – Hàng sơn phường (Phường Hàng sơn); 19 – Cửa cái phường (Phường Cửa cái); 20 – Hàng bè phường (Phường Hàng bè).
Trong 20 phường này, có 8 phường thủ công, đó là nét đặc sắc của Phố Hiến, làm cho Phố Hiến khác với các đô thị cùng loại đương thời như Hội An, Thanh Hà, Côn Sơn… Cũng chính vì thế, về mặt phạm vi, Phố Hiến không còn đóng khung trong phạm vi nhỏ (ở góc tây nam thành phố Hưng Yên ngày nay) nữa mà đã mở rộng về phía đông, và phía đông bắc. Chợ Nhân Dục trở thành chợ lớn nhất trong tỉnh hạt. Bến đò Hương Dương (tức Hoa Dương), bến đò Kệ Châu đều là những bến sông lớn, nơi lên hàng, xuống hàng, nơi thu thuế các thuyền buôn của nhà chức trách. Lúc này sở lỵ của huyện Kim Động cũng dời về Đằng Châu, lại càng tạo điều kiện cho Phố Hiến phát triển hơn nữa.
3 – Hưng Yên cảng thị - kỷ nguyên vươn ra biển lớn
Ngày 10/ 10/ 2025, tại xã Đông Thái Ninh, UBND tỉnh Hưng Yên tổ chức Lễ Khởi công xây dựng Nhà máy nhiệt điện LNG Thái Bình. Nhà máy nhiệt điện LNG Thái Bình có diện tích đất và mặt nước sử dụng khoảng 269,43 ha, với tổng vốn đầu tư hơn 47.000 tỷ đồng; công suất thiết kế 1.500 MW, là dự án chiến lược phát triển kinh tế, xã hội; tạo ra hàng nghìn việc làm cho lao động địa phương và vùng lân cận; tạo sức lan toả trong việc thu hút đầu tư, tạo khí thế mới, động lực mới cho tỉnh Hưng Yên.
Cùng ngày 10/ 10/ 2025, tại xã Hưng Phú, tỉnh Hưng Yên tổ chức Lễ Khánh thành tuyến đường bộ ven biển. Tuyến đường đi qua 7 xã trên địa phận tỉnh Hưng Yên và 1 xã trên địa phận tỉnh Ninh Bình; chiều dài toàn tuyến 34,42 km, tổng mức kinh phí đầu tư 4.800 tỷ đồng. Đây là công trình giao thông trọng điểm, giữ vai trò quan trọng trong trục giao thông kết nối các trung tâm phát triển của tỉnh với các vùng động lực tăng trưởng của cả nước như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Đặc biệt, tuyến đường sẽ kết nối trực tiếp Khu kinh tế Thái Bình với sân bay quốc tế Cát Bi và cảng quốc tế Lạch Huyện, mở ra không gian phát triển mới, là động lực phát huy tối đa lợi thế để tỉnh thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giao thương hàng hoá trong nước và nước ngoài, phát triển du lịch, hội nhập toàn cầu…
Doanh nhân Vũ Văn Tiến, Chủ tịch tập đoàn Geleximco là một trong những người con làm ăn xa quê. Sinh ra tại xã Tây Sơn, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (cũ), nay là xã Tiền Hải (tỉnh Hưng Yên), ông Tiến đã gây dựng Geleximco trở thành một trong những tập đoàn kinh tế tư nhân đa ngành hàng đầu cả nước, với tổng tài sản trên 80.000 tỷ đồng, doanh thu hàng năm trên 20.000 tỷ đồng, tạo việc làm cho hơn 10.000 lao động. Tập đoàn hiện hoạt động trên 5 lĩnh vực chính: sản xuất công nghiệp, tài chính – ngân hàng, bất động sản – hạ tầng, thương mại – dịch vụ và công nghệ thông tin.
Ông Tiến, một người có vóc dáng nhỏ bé, nhưng có tầm nhìn xa, tư duy chiến lược nhạy bén và đặc biệt quyết liệt trong hành động. Chia sẻ về những đổi thay của quê hương sau khi hợp nhất hai tỉnh Thái Bình - Hưng Yên thành tỉnh Hưng Yên mới, ông Vũ Văn Tiến bày tỏ niềm vui và kỳ vọng lớn lao. Theo ông, “đây là quyết sách mang tính chiến lược, tạo ra một không gian phát triển rộng lớn với nhiều lợi thế vượt trội về địa lý, hạ tầng giao thông, quỹ đất và nguồn nhân lực”.
Hưng Yên nằm ở trung tân tam giác tăng trưởng phía Bắc. Gần đây, tỉnh nhà có hàng loạt dự án lớn được triển khai, hệ thống hạ tầng ngày càng được hoàn thiện, tạo môi trường hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư trong nước và ngước ngoài. Ông Tiến chia sẻ: Hưng Yên cần có những cơ chế, chính sách cởi mở, thông thoáng hơn nữa, có tính đột phá hơn nữa. Hiện Tập đoàn Geleximco đang tập trung nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ Khu công nghiệp Hưng Phú và Nhà máy sản xuất ô tô GEL – O & J tại xã Hưng Phú. Dự án nhà máy có tổng vốn đầu tư hơn 800 triệu USD (khoảng 20.000 tỷ đồng), khởi công năm 2025. Khi đi vào sản xuất nhà máy sẽ đạt công suất 50.000 xe/năm. Bên cạnh đó, Tập đoàn cũng đã ký thoả thuận hợp tác với các đối tác đến từ Quảng Tây (Trung Quốc) để đầu tư dự án nhà máy sản xuất phụ tùng ô tô quy mô hơn 200 ha, tổng vốn đầu tư hơn 10.000 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 2027. Khi hoàn thiện, đây sẽ trở thành một trong những trung tâm sản xuất ô tô lớn nhất miền Bắc. Doanh nhân Vũ Văn Tiến hy vọng (và ông khẳng định) Hưng Yên sẽ trở thành điểm sáng ở vùng đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới.
Sự hội tụ của các nhà đầu tư lớn như Green i – Park, Geleximco, VSIP, Greenworks, Kyuden, Lotes… không chỉ tạo ra dòng vốn đầu tư lớn mà còn hình thành một cộng đồng doanh nghiệp hùng hậu, đủ sức đưa tỉnh Hưng Yên trở thành trung tâm công nghiệp – đô thị hiện đại của đồng bằng sông Hồng. Bước vào giai đoạn mới, với nền tảng và khát vọng phát triển, công nghiệp sẽ tiếp tục là “đường băng” chắc chắn để tỉnh “cất cánh”, vươn lên, vươn xa hơn nữa, vươn ra ngoài biển lớn… hội nhập toàn cầu…
Toàn tỉnh Hưng Yên có hơn 5.000 héc ta trồng nhãn. Ngày nay, nhãn Hưng Yên không bó hẹp trong phạm vi tiêu dùng nội địa. Hàng chục vùng trồng nhãn đã được quy hoạch bài bản, sản xuất theo quy trình VietGAP, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu đi các nước Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Vương quốc Anh…Tương Bần nổi tiếng, đạt chuẩn OCOP 4 sao, được xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc… Trái nhãn, chai tương của Hưng Yên đã đi xa, góp phần làm lên thương hiệu cho nông sản Việt Nam trên bản đồ thế giới. Nhưng điều đặc biệt hơn cả, chính những vườn nhãn, làng tương… đã trở thành địa chỉ xanh, điểm đến hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước. Các năm qua, nhiều đoàn du khách đến từ các nước Singapore, Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc… đã ghé thăm Hưng Yên nhiều lần.
Nay mai, Hưng Yên sẽ có tuyến đường 10 làn xe, kết nối phường Phố Hiến với cảng biển Diêm Điền, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá từ các khu công nghiệp; đồng thời sẽ có cảng biển quy mô 200.000 tấn tại Diêm Điền, mở rộng không gian kinh tế hướng biển.
Một thời gian không xa, cảng biển Thái Bình sẽ gồm các khu bến Diêm Điền, Trà Lý, Ba Lạt, các bến phao, khu chuyển tải, và các khu neo chờ, tránh, trú bão. Mục tiêu đến năm 2030, cảng biển Thái Bình đáp ứng cho lượng hàng hoá thông thương 6,8 triệu tấn đến 8 triệu tấn (trong đó hàng container 0,02 triệu Teu); khu vực có từ 10 đến 11 bến cảng, gồm từ 12 đến 13 cầu cảng. Tầm nhìn đến năm 2050, cảng biển Thái Bình sẽ đáp ứng cho lượng hàng hoá thông qua với tốc độ tăng trưởng bình quân từ 5 đến 5,3%/ năm. Giai đoạn này, phát triển hệ thống cảng biển Thái Bình và các dịch vụ hỗ trợ phù hợp với tiến trình hình thành Khu kinh tế Thái Bình, các khu công nghiệp và vùng phụ cận.
Việc sáp nhập, đổi mới, là tiền đề, và là điều kiện để Hưng Yên cùng cả nước cất cánh, là điểm hẹn của ý chí và khát vọng vươn lên với mục tiêu sớm đưa Hưng Yên bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những quyết sách đột phá, sáng tạo cho một tương lai tươi sáng hơn.
Đến năm 2045, Hưng Yên sẽ là thành phố thông minh, sinh thái trực thuộc Trung ương; có nền công nghiệp hiện đại thuộc nhóm dẫn đầu cả nước; trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh cua phía Bắc; giàu bản sắc văn hoá, phát huy đầy đủ, mang đậm những giá trị cốt lõi của của văn hoá Vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, người dân có cuộc sống thịnh vượng, hạnh phúc.
Với truyền thống và lịch sử ngàn năm, Hưng Yên cảng thị – Kỷ nguyên vươn ra biển lớn - Kỷ nguyên tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Báo Hưng Yên, số 6.341, ngày 2/ 10/ 2025; tr 20.
- Cương mục, tập 2, (2007); bản dịch; Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
- Đại Việt sử ký toàn thư, (2003); Nxb. VHTT, Hà Nội.
- Đại Nam nhất thống chí, (1971); Quốc sử quán triều Nguyễn; bản dịch; Nxb. KHXH, Hà Nội.
- Hoan Châu ký, (2004); Nguyễn Cảnh thị; Nxb. Thế giới; Hà Nội.
- Phố Hiến, (2014); Nguyễn Khắc Hào, Nguyễn Đình Nhã (Cb); Nxb. KHXH, HN.
- Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, (1961); Nxb. Sử học, Hà Nội.
[1] Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, (1961); Nxb. Sử học, Hà Nội; tr 11, 12; 29, 30.
[2] Cương mục, tập 2 (2007); bản dịch; Nxb. Giáo dục, Hà Nội; tr 534.
[3] Đại Nam nhất thống chí, Quốc sử quán triều Nguyễn, (1971); bản dịch; Nxb. KHXH, Hà Nội.
[4] Hoan Châu ký, Nguyễn Cảnh thị, (2004); Nxb. Thế giới; Hà Nội; tr 138, 233.
[5] Hoan Châu ký; Sđd; tr 138, 233.
[6] Đại Nam nhất thống chí, Sđd; tr 285.