Lê Xuân Tê
1 – Nghe tiếng trống chèo
Thật mừng đồng bằng Bắc Bộ nước ta có một loại hình diễn xướng mà sự hình thành, tồn tại, phát triển đã nhiều trăm năm – đó là Chèo truyền thống. Đi ra từ thực tiễn cuộc sống, hoàn cảnh xã hội, diễn xướng chèo có nét riêng biệt, muôn vẻ, muôn hình, lúc nào và bao giờ cũng sinh động. Diễn xướng chèo hay từ cách tổ chức hoạt động, lề lối tập tục đến nghệ thuật hát – diễn – trò, trò hát, trò nhời nơi nào cũng đa dạng, phong phú. Các vùng chèo khác nhau có những nét tương đồng nhưng cũng lại có nét bản sắc riêng.
Chèo là một loại hình độc đáo cuả dân tộc, được nhân dân ta ấp ủ, gìn giữ lâu đời. Từ thế hệ này sang thế hệ khác đã có bao nhiêu tích trò được diễn đi diễn lại. Người dân vùng đồng bằng dọc sông Hồng, sông Đáy, sông Cầu, sông Luộc, không thể thiếu được món ăn tinh thần mỗi sớm mỗi chiều – đó là chèo.
Hát chèo, diễn chèo, làm trò chèo, không chỉ ở một nơi, một điểm mà đã xuất hiện đều khắp, làng làng, xã xã, nơi nơi đều có, nổi lên mạnh mẽ, đến nỗi khắp “tứ chiếng”, nơi nào cũng có chèo “chèo Đông, chèo Nam, chèo Đoài, chèo Bắc”.
Các cụ ta xưa có câu ca:
Ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe tiếng trống chèo vác bụng đi xem.
Chưa có tài liệu chứng minh câu ca trên xuất hiện từ đời nào, đến nay đã bao nhiêu thế kỷ. Nhưng có thể khẳng định chắc chắn một điều rằng những năm phong đăng hoà cốc, người nông dân no nê ấm bụng, thì tiếng trống chèo giòn giã, thôi thúc mạnh mẽ mọi người mang chiếu, mang ghế ra rải ở sân đình để thưởng thức những màn chèo quê.
Ở Hưng Yên (cũ), hầu hết các xã, thị trấn đều có phong trào hát diễn chèo. Phía Bắc Hưng Yên, xã Phan Đình Phùng có phường chèo Khuốc (Khuốc Lạng); xã Cẩm Xá có phường chèo Cẩm Đường; xã Thanh Long, cái nôi của phong trào “gia đình văn hoá” miền Bắc những năm 60 thế kỷ XX, có đoàn chèo Thanh Long; xã Nghĩa Trụ có đoàn chèo Xuân Cầu; xã Đô Lương có đoàn chèo Đô Lương; xã ĐồngThan có đoàn chèo Đồng Than; xã Hùng An có đoàn chèo Lai Hạ…
Còn tại tỉnh Thái Bình (cũ), các xã, thị trấn cũng đều có các đoàn, đội chèo, trong đó nổi trội, ấn tượng nhất là phường chèo Khuốc (xã Phong Châu, huyện Đông Hưng).
2 – Diễn xướng ở Chèo Khuốc (Khuốc Lạng)
2.1 – Câu chuyện còn lưu
Vùng Mỹ Hào (Hưng Yên) xưa có phường chèo Khuốc. Bà con trong vùng còn gọi là Khuốc Lớn, Khuốc Lạng, để phân biệt với làng Khuốc Bé (xã Việt Hưng, huyện Văn Lâm, Hưng Yên ngày nay), cách Khuốc Lạng một đoạn đường.
Xưa Khuốc Lạng có Phường Canh do Thày Cúng cầm trịch, giúp nhà chùa và tang gia cầu siêu, phạt mộc, trừ tà đưa linh; có Hội Chư hậu gồm các vãi già lên chùa mồng Một, ngày Rằm đèn nhang kinh kệ chầu Phật; có Phường Kèn bảy, tám người lo phần kèn trống ma chay, rước đám; có Phường Nhà Trò mươi, mười lăm người (các cô) hát múa trước cửa đình khi làng vào đám “Tế Thành hoàng”, hay hát theo yêu cầu tư gia của các gia đình chức sắc, gia đình giầu có, còn gọi là “hát thẻ”; và một tốp các anh chị giọng dẻo, tay mềm, có năng khiếu múa hát, đi vào Phường Chèo để thỉnh thoảng hát hoặc đưa đám bạn về hát cho dân làng thưởng thức, hoặc cũng có khi hát trong các lễ hội, việc quan, việc khoán việc khao của làng, của tổng.
Chèo Khuốc (Khuốc Lạng), chèo Cẩm (Cẩm Đường), đã một thời ngang dọc, làm nức lòng gần xa, với những trùm nghề nổi tiếng như: Trùm Thiều (Nguyễn Văn Thiều, làng Khuốc); Trùm Chất (Đỗ Văn Chất, làng Cẩm Đường), làm trùm chèo, dạy nghề hát chèo nhiều nơi trong vùng. Thường thì Phường có đủ đào, kép, nhạc công, đảm bảo buổi diễn được thông suốt, đẫy đà cả một chương trình đã định từ chập tối đến tận đêm khuya.
Nhiều nghệ nhân cả cuộc đời say mê, sống chết với nghiệp diễn, nghiệp cầm ca: nghệ nhân Nguyễn Văn Thiều, nghệ nhân Đỗ Văn Chất, nghệ nhân Vương Thị Đạch, Vương Văn Sớ, Nguyễn Thị Ngạch, Nguyễn Văn Ca (Ca Còng), Vương Thị Tại, Vương Thị Năm, Vương Văn Tỉnh, Nguyễn Thế Hùng,… Nghệ nhân chèo cao tuổi như cụ Vũ Thị Tuân (Thắng), sau sống ở Liễu Lâm, Thuận Thành, Bắc Ninh, vẫn lên sân khấu biểu diễn được khi đã ở tuổi 79...
2.2 – Hoạt động phường nghề
Tìm hiểu, nghiên cứu điền dã, thấy rằng từ xa xưa, các đào, kép, những người có khiếu, có khả năng hát, diễn xuất, làm trò chèo, tập hợp lại với nhau thành nhóm, thành phường chèo, do ông trùm chỉ huy.
Ông trùm ở đây là người đứng lên tập hợp lực lượng, quán xuyến mọi công việc, lo ăn lo diễn, lo đối ngoại liên hệ sân diễn các nơi, nghĩa là tất tật mọi thứ, từ miếng cơm manh áo đến nội dung chương trình diễn xướng, tìm vở, tìm người, chăm sóc, duy trì, phát triển đoàn hát. Nên việc thành công, phương trưởng của cả phường chèo là ở người cầm trịch chính này. Qua khai thác điền dã trong dân gian chưa thấy có bà trùm chỉ huy (ở vùng phía Bắc Hưng Yên).
Ngoài trùm chính, còn có “trùm nhị”, trùm nhị có phường có một, có phường có hai người. Nếu ở trường hợp trùm có ba người, thì cơ cấu nhiệm vụ sẽ như sau: Trùm chính lo tập hợp lực lượng, là người có kinh tế khá giả, lo chi phí luyện tập, huy động cơm áo gạo tiền, chăm sóc sức khoẻ cho cả đoàn. Một trùm nhị có khả năng, am hiểu nghệ thuật, dạy đào kép từ hát múa đến ra bài, ra bản trong các vở, các khúc diễn (trích đoạn). Còn một trùm nhị nữa sẽ làm việc phân công cụ thể từng việc của mọi người trong đoàn, người chạy việc của từng sân diễn, lo việc nhắc vở, chạy bài, trông nom lề lối của từng vai khi xuất hiện trên sân khấu.
Tuy nhiên, đến những năm 1942 – 1943, gặp phải hoàn cảnh làm ăn ngày càng khó khăn ngoài xã hội (Nhật bắt nông dân phá lúa trồng đay, thu gom vơ vét đến tận kiệt thóc gạo trong dân, nguy cơ chiến tranh đến gần…), nên hầu khắp các hoạt động hát xướng ở các nơi bị đình trệ suy sụp. Phường chèo của ông Trùm Thiều, Trùm Chất cũng không nằm ngoài tình trạng ấy.
Các phường chèo không còn đủ điều kiện tài lực để giữ nổi đội ngũ và lề thói diễn hát như trước. Những năm đó và nhiều năm sau, ông trùm (trùm chính) nắm toàn quyền, cũng là phải lo lắng quán xuyến tất cả mọi việc nuôi đội ngũ, để đoàn sống, hoạt động, bảo toàn phường chèo.
Thời xưa, và thời thuộc Pháp, các phường chèo do các gia đình trùm dựng lên chứ không phải do chính quyền hay tổ chức chính trị, xã hội nào thành lập. Chẳng hạn: gia đình ông trùm Thiều dựng lên Phường chèo Khuốc (Khuốc Lạng); gia đình ông trùm Chất dựng lên Phường chèo Cẩm (Cẩm Đường);…
Cụ Trùm Nguyễn Đình Nghị, một người tài danh, sinh năm Quý Mùi, tại Thuỵ Lôi, Tiên Lữ, Hưng Yên, mất năm Giáp Ngọ, tại số nhà 41, phố Lò Sũ, Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình nhà Nho, Nguyễn Đình Nghị mê chèo, hiến mình cho chèo mà không tính đến việc được “chèo nuôi lại mình”. Suốt cuộc đời mình cụ Trùm Nghị làm công việc truyền sức sống cho chèo, bất chấp thân tàn, sức kiệt, đói khổ, để lại cho hậu thế một di sản văn hoá chèo đồ sộ. Gần 40 tuổi, cụ về làng mua chức Lý trưởng ở làng để có danh với làng (chứ không phải cụ đương chức lý trưởng rồi cụ đứng ra lập Phường chèo “Lý Nghị”[1]).
Một điểm chung là ảnh hưởng của các gia đình trùm đối với các chức sắc trong làng, trong tổng và đối với xã hội rất lớn.
Thời bấy giờ mỗi phường chèo chỉ trên dưới có mười người nên các đào kép thường phải đảm nhận rất nhiều vai. Nếu là kép thì phải đóng cả kép chính, kép phụ; nếu là đào thì phải đóng cả đào chính, đào lệch. Còn dàn nhạc thì chỉ có hai, ba người; nếu thổi sáo thì thổi cả tiêu, nếu kéo nhị thì kéo cả hồ; nếu đánh trống thì đánh cả trống cái, trống đế, chũm choẹ. Ban nhạc có thể thiếu sáo hoặc thiếu nhị chứ không thể thiếu trống; phường nào cũng phải có trống; “bất cổ bất thành chèo”.
Ở Phường chèo Khuốc ông trùm Thiều đứng lên lo mọi sinh hoạt, tiền công, tiền thưởng cũng bình xét chia loại: công có công nhất, công nhì, công ba. Trong đội nhạc công, người đánh trống chèo là người giữ nhịp đêm hát, là người làm sôi động buổi diễn xướng, nên bao giờ cũng được hưởng công nhất. Thời gian thịnh vượng, Phường chèo Khuốc có hai người gánh hòm, phục trang, đạo cụ, kiêm nấu bếp, chăm sóc y tế cho cả đoàn.
Ánh sáng để phục vụ đêm diễn: thời gian đầu đoàn dùng đuốc bó, các góc sân khấu có đèn dầu hoả, về sau dùng đèn đất, đèn măng sông.
Giai đoạn đầu, phần lớn các đào kép không biết chữ nên việc học vai, vào vở bằng cách truyền khẩu cho nhau, vì thế ở các tích trò diễn viên thường thuộc cả vở, nhất là các vở chèo cổ tác giả khuyết danh như: Quan Âm Thị Kính, Kim Nham, Tôn Mạnh Tôn Trọng, Tống Trân Cúc Hoa, Chu Mãi Thần, Nhị Độ Mai,…
2.3 – Tập tục, lề luật khi hành nghề
Bàn tới tập tục, lề luật khi hành nghề, quá trình điền dã khảo cứu thì thấy phong cách, công tác tổ chức của mỗi vùng mỗi khác, nơi này khác nơi kia, điều này do tập quán sinh hoạt, hoàn cảnh xã hội không đồng nhất, cộng với sự biến cải thường xuyên của thời cuộc.
Ở Phường chèo Khuốc có lề lối: Đã nhận lời làm đám, trước lúc xuất quân, phường chèo phải sắm một lễ trầu cau, ông trùm đặt lên ban thờ tổ trong nhà. Một lễ nữa dùng khi đến nơi biểu diễn ông trùm (hoặc sai người có lộc đặt lên) lên ban thờ của làng/xã đó để lễ thánh.
Trước khi biểu diễn các kép (đào) cũng phải kiêng không ngủ chung với vợ (chồng). Tại nơi biểu diễn “buồng trò” được quây kín, tách bạch bên nam bên nữ. Cách giao tiếp, xưng hô với người trong đoàn, với bà con nơi mình phục vụ nhẹ nhàng, phù hợp thuần phong mỹ tục.
Quá trình ra vai, các diễn viên phải kiêng huý tên thánh của làng nơi mình phục vụ. Chẳng hạn: ở làng Phúc Xá, kiêng huý chữ “Hồng” hát, nói thành “hường”, chữ “Tế” thành “tấu”; ở làng Hoàng Nha kiêng huý chữ “Tấm” thành “đớn”, chữ “Cám” thành “bổi”; ở làng Lỗ Xá kiêng huý chữ “Tông”, chữ “Lan”, chữ “Kiệt” thành các chữ “tôn”, “lê”, “thái uý”… Nói chung việc nói, hát chệch đi là chuyện quen thuộc, là động tác “nằm lòng” của các đào, kép và các ông trùm.
Ngoài ra việc giao tiếp khéo khi công diễn cũng là điều mà đoàn hát luôn coi trọng. Đến một làng muốn được lòng chức dịch, thì phường chèo có thể hát các đoạn, các câu mở, câu giáo đầu “khen ông, khen bà, khen cô bác…” làm nức lòng quan viên và nhân dân sở tại. Người cầm trịch có nhiều lúc khi đến cảnh Cúc Hoa nuôi mẹ chồng, thương cảm quá “cắc” trống, đoạn diễn tạm dừng lại, để đưa tiền cho Cúc Hoa nuôi mẹ chồng khi gặp nạn; hoặc đến đoạn Châu Long thay chồng nuôi bạn “cắc” trống để thưởng cho đào sắm vai này; đoạn Thị Kính xin sữa nuôi con “cắc” trống để thưởng cho Thị Kính…
Phường chèo được sinh ra, phát triển, bởi xuân thu nhị kỳ, nhất là ba tháng xuân, các phường chèo thi nhau phục vụ nhân dân trong tổng, huyện, tỉnh và ở tỉnh bạn. Có đêm một tích trò, có đêm hai tích trò, người xem người diễn cùng say sưa, nhiều lúc đồng điệu, giao hoà như một.
Chẳng thèm ăn chả, ăn nem
Thèm no cơm tẻ, thèm xem hát chèo.
Phường chèo Khuốc của ông Trùm Thiều đã có thời vào Phố Mộc Sàng (thành phố Hưng Yên ngày nay) thuê rạp phục vụ nhiều lần, mỗi lần nhiều tháng; lên Thái Nguyên làm rạp phục vụ bà con nhân dân vùng Phổ Yên, Đại Từ, Gia Bẩy; có đợt phục vụ nhân dân nhiều ngày ở ngay cạnh Rạp Chuông Vàng (Hà Nội),… Phường chèo Khuốc (Khuốc Lạng) đã một thời vang bóng và rất đáng ghi nhận.
3 – Có một làng Chèo Khuốc (Thái Bình)
Cũng như nhiều nơi khác trong vùng, các phường, gánh, hội chèo Thái Bình thời kỳ trước đây hình thành từ yêu cầu thưởng thức nghệ thuật của cộng đồng dân cư trong làng, trong tổng, trong vùng. Đã là người Thái Bình thì không thể không biết đến Chèo Khuốc.
Làng Khuốc, tên thường gọi là làng Cổ Khúc, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng, sau là xã Phong Châu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, (từ tháng 7. 2025, thuộc tỉnh Hưng Yên mới).
Trước đây, các gánh chèo Khuốc (Phong Châu) lang bạt biểu diễn quanh năm suốt tháng, nhưng cứ đến dịp giỗ Tổ 18 tháng 8 âm lịch và dịp Tết Nguyên đán là về phục vụ lễ hội của làng. Những ngày này cả làng tưng bừng trống phách. Các gánh chèo được phen thi tài, thu hút hàng nghìn người về tham dự, cờ hoa rợp trời. Người xem được dịp thưởng thức các ngón nghề, các làn điệu, giọng ca hay nhất của chèo, còn các diễn viên của làng thì được dịp trổ tài và cũng là lúc động viên khích lệ nhau chuẩn bị cho một vụ mùa làm ăn mới ấm no, khấm khá hơn trước.
Nói về làn điệu chèo của quê mình nhiều nghệ nhân chèo Khuốc (Phong Châu) cho biết: Chèo Khuốc có tới 12 làn điệu hay, như: Ván cờ tiên, Đường trường thu không, Điệu hát theo, Điệu hát mụa, Hề đơm đó… Nhưng độc đáo hơn cả vẫn là “Múa trái” và “Tắm tiên” trong vở “Từ Thức du tiên” được xếp vào hàng quý hiếm. Vấn đề ở đây là các làn điệu giống nơi khác, nhưng cách ngắt nhịp, đánh trống “theo” lại rất khác. Vì thế ở chèo Khuốc học hát đã khó, nhưng học gõ trống lại càng khó hơn. Bởi người cầm dùi cứ sau mỗi lời hát phải đế tiếng trống để nâng lời hát lên. Nếu không đánh được trống đế thì người hát coi như mới được một nửa kết quả.
Xưa kia, ở làng Khuốc, chèo không thể thiếu và được coi là thước đo uy tín của những gia đình khá giả, gia đình chức sắc, ai làm quan to đến mấy, nếu như trong nhà không có gánh hát chèo mua vui thì vẫn chưa sang, chưa nổi ! Đây là điểm rất khác biệt của chèo Khuốc (Phong Châu) với chèo Khuốc (Khuốc Lạng).
Thế hệ tiếp nối thế hệ, những làn điệu, những ngón nghề chèo của làng vẫn được nâng niu, gìn giữ và trao truyền như một báu vật. Làng chèo Khuốc (Phong Châu) có nhiều tên tuổi nổi bật, có đóng góp công sức rất lớn cho làng chèo nước nhà. Xưa nổi danh có Trùm Điều, Trùm Thương, Huyện Đoàn, Kép Mục, Khoá Thị, Chánh Ân. Nay những đào, kép được người xem nhớ mãi, như: Vũ Văn Phụ, Đào Thị Nao, Cao Kim Trạch, Phạm Văn Điền, Hà Quang Bổng, NSƯT Thu Hiền, Phạm Thị Ruyến… Rồi nghệ sỹ Nguyễn Thị Yến (Đoàn chèo Tổng cục Hậu cần), Quách Mạnh Hoàn (Đoàn chèo Hà Nam), Phạm Thị Cậy (Đoàn chèo Lai Châu), Quách Văn Cương (Đoàn chèo Hải Dương)…
Đã có được con số thống kê: cả nước có 15 đoàn chèo chuyên nghiệp thì có tới 13 đoàn với sự góp mặt của 172 nghệ sỹ, nhạc công người Thái Bình, mà trong đó có trên 50 con em xuất thân từ chèo làng Khuốc. Có thể nói chèo Khuốc (Phong Châu) là một trong những cái nôi ươm trồng, cung cấp nhân tài cho bộ môn nghệ thuật chèo độc đáo của Việt Nam.
4 – Để còn giữ mãi tiếng trống chèo
Hiện nay, các phường chèo như thời cụ Trùm Thiều (Khuốc Lạng), cụ Trùm Điều (Phong Châu), các Gánh chèo của các nghệ nhân Cao Kim Trạch, Phạm Văn Điền (Phong Châu) tổ chức “như lối xưa” không còn nữa. Các Đội chèo, Câu lạc bộ chèo của các tổ dân phố, các thôn được hình thành một cách tự phát, hoạt động nhiều khi tuỳ hứng, thiếu tôn trọng giữ gìn lề lối, mẹo mực, các lớp lang, ngón chèo ít nhiều bị pha tạp, rạn vỡ.
Mô hình đơn lẻ như hiện nay đã làm giảm tính cộng đồng trong việc giao hoà, thưởng thức tinh hoa của nghệ thuật diễn xướng chèo; đồng thời không nâng cao được kỹ năng, kỹ thuật đào tạo lực lượng diễn viên trẻ kế cận; khó hợp tác để tạo lên thế mạnh tổng hợp cho phong trào ca hát, phát triển nghệ thuật biểu diễn, làm phong phú thêm mẹo luật, lớp lang, “trò chèo” của làng/tổ dân phố, của xã/phường; vì vậy làm giảm hẳn tính hấp dẫn của diễn xướng chèo đã từng có xưa nay.
Với bề dày truyền thống ẩn chứa từ bao đời, với sắc xuân của công cuộc đổi mới, chấn hưng văn hoá do Đảng ta khởi xướng, tin rằng nghệ thuật chèo hai làng Khuốc (như đã nói trên) và đội chèo, câu lạc bộ chèo của các tổ dân phố, các thôn sẽ phát triển, mang lại hơi thở, sinh khí mới của chèo vốn đã trở thành niềm tự hào của người Hưng Yên mới, đáp ứng sự mong đợi và niềm tin yêu ngưỡng mộ của đông đảo công chúng say mê nghệ thuật chèo, của bè bạn gần xa.
[1] Vũ Hồng Đức: Kiến giải những tồn nghi về Nguyễn Đình Nghị; Báo Hưng Yên hàng tháng; số 136 (10 - 2009); tr 16.