TẤM BIA HẬU TẠI DI TÍCH QUỐC GIA
CHÙA PHÚC THẮNG, XÃ THƯ TRÌ, TỈNH HƯNG YÊN
Bùi Thị Hải Yến
Chùa Phúc Thắng, xã Thư Trì, tỉnh Hưng Yên được xây dựng từ thời Lý. Theo sách “Yên Tử cựu lục” do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính viết vào thời hậu Lê, sách “Đại học thiên sử khảo chính” do tú tài Doãn Cảnh Tinh viết vào thời Nguyễn thì chùa Phúc Thắng là nơi Đạt Mạn thiền sư Đỗ Đô đã tu hành.
Thiền sư Đỗ Đô quê ở phường Hoàng Giang, trấn Hải Dương, sinh sống tại trang Ngoại Lãng (làng Lạng) nay thuộc xã Thư Trì, tỉnh Hưng Yên. Thời trẻ ngài phát nguyện tu hành ở chùa Yên Tử (Quảng Ninh); năm 1066, ngài được cử tham dự khoa thi Bạch Liên - khoa thi chọn Tiến sĩ Phật học do nhà Tống tổ chức và giành giải nguyên, trở thành Tiến sĩ Phật học; về nước ngài được vua Lý Thánh Tông ban chức Vệ đại phu (thuộc hàng quan văn), ban pháp hiệu là Đạt Mạn, lại giao giúp Thái tử (sau là vua Lý Nhân Tông) chăm lo các công việc liên quan đến triều chính; cuối đời Đạt Mạn thiền sư Đỗ Đô về tu hành, hoằng dương đạo Phật tại chùa Phúc Thắng ở trang Ngoại Lãng; khi ngài hóa, triều đình đã cho phép dân làng Ngoại Lãng xây dựng một ngôi đền thờ ngài ngay cạnh chùa Phúc Thắng, đền đó có tên là đền Thượng.
Trong quá trình tồn tại chùa Phúc Thắng đã được tu bổ, tôn tạo nhiều lần; hiện tại trong khuôn viên chùa Phúc Thắng, xã Thư Trì, tỉnh Hưng Yên có một am thờ bà Đỗ Thị Doanh, người đã hằng tâm, hằng sản để tu bổ chùa vào đầu thế kỷ XVIII. Am thờ làm bằng đá, cao 1,8m, dài 1,2 m, rộng 1,2m; Am có 02 mái: Mái thượng là phiến đá vuông, rộng 1,2m x 1,2m, cao 0,8m, tạo thành khối vòm mái tứ diện, đỉnh khắc nổi đế vuông, thu lại hình bầu rượu, 2 mặt mái bên tả, hữu chạm nổi chim phượng. Mái hạ cũng là một phiến đá vuông kích thước 1,2m x 1,2 m chạm nổi dây cánh sen cách điệu. Trong am đặt pho tượng bà Đỗ Thị Doanh trong tư thế ngồi thiền; mặt sau am đá chạm thành tấm bia, trán bia chạm mặt nhật, phía dưới chạm nổi 05 chữ Hán “Hậu phật tháp bi ký”, lòng bia khắc chìm 22 dòng chữ Hán có nội dung như sau:
Xứ Sơn Nam, phủ Kiến Xương, huyện Thư Trì, xã Ngoại Lãng, quan viên gồm: Giám sinh Hoàng Đường, Nguyễn Năng Chí, Đỗ Công Cẩn, Hoàng tất Kiên, Phạm Hữu Tài, Phạm Quang Hoa, Đỗ Đăng Doanh, Phạm Văn An, Nguyễn Đình Diên, Đỗ Đăng Nguyên, Nguyễn Thế Bảo, Đỗ Đình Yên, Đỗ Công Phú, Trần Chỉ Kính, Đỗ Đình Quý, Phạm Văn Phó, Đàm Công Khanh, Đỗ Duy Năng, Đàm Thiên Xuân, Đỗ Thế Khoa cùng thứ bậc trên dưới cả xã. Vì tôn kính giữ gìn tòng tự hậu Phật.
Thường nghe rằng:
Phật chung đức tính lành đáng bậc thánh nhân Tây thổ, người có lòng từ bi thật là Phật sống Nam thiên, huyền cơ chẳng mất.
Ngẫm nay huyện Thư Trì, xã Ngoại Lãng có bà Đỗ Thị Doanh, hiệu Từ Hoa, sinh ra ở chốn cao môn, tốt đẹp chung nơi hoa ấp, nguồn thiện vun trồng nảy nở, chưng hoa pháp hỉ Bồ Đề, phiền chương rửa sạch, kết chung quả nhân duyên Ưu bát, sánh duyên người thôn Hạ, sở Dũng Thúy là Trần Lệnh công.
Mối manh kỳ ngộ
Dưới nguyệt xe tơ
Tế độ cứu người, phóng sinh cứu vật,
Bè từ bi phúc đức chở đầy
Tu tạo mỗi ngày góp của, giúp công
Thuyền bát nhã điều lành chất nặng.
Ngày mồng 1 tháng 2 năm Giáp Thân (1704) bà bỏ 30 quan tiền cổ, cùng hàng xã xây dựng một dãy liền 5 gian hậu đường chùa Phúc Thắng, cả xã họp, tôn bà làm hậu Phật, định lệ ngày sóc, ngày vọng hàng tháng được cúng theo chư Phật, niên hội mỗi ngày cúng một mâm xôi.
Năm Nhâm Thìn (1712), bà tiếp tục cúng 2 mẫu 1 sào ở Điệp xứ để cho hàng xã cày cấy thu hoa lợi phụng sự nghi lễ ngày giỗ, ngày chạp; hiến 4 sào ruộng ở xứ Đường Sung để cho vị sư ở chùa trồng cấy thu hoạch dùng sửa lễ và đèn nhang ngày giỗ ngày chạp. Người trong xã cùng nhau bàn rằng: Người đã có làm điều thiện thì dân làng nên có báo đền, để muôn đời sau ghi nhớ, làng muốn dựng một tòa tháp đá, tạc tượng hậu Phật để thờ, khắc bia đá để ghi công đức; khi xin văn khắc thầy nói: Người có âm đức ấy hẳn có dương báo, tín chủ Đỗ Thị hằng tâm, kính cẩn thờ Phật; hàng xã báo đền như thế cũng là lẽ thường, không có gì là lạ; những điều làng mong muốn báo đền nên khắc vào bia đá để muôn đời sau ghi nhớ, không được thay đổi lời nói ban đầu, không được đổi thay điều ước từ trước, nên tiếp tục đắp thêm nền phúc, như thế thì khang ninh mãi được giữ gìn, phúc lộc ngày thường đưa lại; chẳng phải một nhà, một làng, mà trong cõi đều được thừa hưởng ân lộc. Khách chắp tay khen rằng ý đẹp. Nay khắc vào đá để lưu truyền; nghìn thuở về sau hoặc có dị nghị khác cúi xin chư Phật và thập bát Long thần soi xét. Những vật công đức bà Đỗ Thị Doanh tiến cúng cho hàng xã và sư ở chùa được kê khai chung dưới đây:
Năm Giáp Thân (1704) cho hàng xã tiền cổ 30 quan, làm hậu đường 3 gian 2 chái.
Năm Giáp Thìn (1712) lại cho tiền của để sửa lại hậu đường thành 5 gian 2 chái.
Thực hiện lời hứa, cho hàng xã 6 sào 7 thước 5, ruộng tư ở xứ Đồng Diệp, đông cận xã Văn Lang, tây cận Tư Hựu, nam cận Thái Lão, bắc cận Tư Hựu; xứ đồng ruộng tư 4 sào 7 thước 5, đông cận Tư Hựu, tây cận Phạm Khả Lưu, nam cận đường lớn, bắc cận Tư Hựu; xứ đồng ruộng tư 1 mẫu: đông, tây cận đường lớn, nam cận xã Văn Lãng, bắc cận Tư Hựu; tổng cộng là 2 mẫu 1 sào để cho hàng xã cày cấy dùng vào việc thờ cúng các tuần, ruộng đất đấy không được đem bán, phải lưu truyền đời đời.
Hiến cho sư chùa làng 4 sào ruộng tư ở xứ Đường Sung, đông cận Nguyễn Chàng, tây cận đường lớn, nam cận Nguyễn Thị Lực, bắc cận ruộng chùa. Luân lưu cày cấy thu hoạch dùng vào việc thờ cúng, người trong xã và ngoài không được để mồ mả ở ruộng này.
Hàng xã dựng tháp đá, bia đá, tượng đá ở phía sau Hậu đường, muôn đời không được chuyển dời chỗ khác. Cùng tô tượng hậu Phật, đợi sau khi hậu Phật trăm tuổi, những ngày giỗ ngày chạp mỗi lần ba mâm trà quả tụng kinh sám hối chúc thực. Có mở hội chùa thì mỗi ngày cúng hậu Phật một mâm xôi.
Sư chùa làng hàng tháng ngày sóc, ngày vọng, đèn nhang cho đến ngày giỗ, ngày chạp, mỗi tuần một mâm cơm, tụng kinh sám hối không được sơ suất, truyền mãi mãi đời sau.
Vĩnh Thịnh năm thứ 8 (1712), tháng 9 ngày mồng 1 lập văn gìn giữ.
Xã trưởng Nguyễn Đình Huyễn cùng các bậc trên dưới toàn xã cùng kí.
Hơn 300 năm đã trôi qua, Am thờ đá vẫn được đặt tại vị trí cũ, hậu đường chùa Phúc Thắng. Am thờ được bảo tồn tốt, hoa văn chạm khắc còn sắc nét, đặc biệt chữ Hán chạm khắc trên bia đá không bị thời gian làm mờ nên việc phiên âm, dịch thuật văn bia rất thuận lợi; việc hương đăng thờ cúng Phật, thánh và hậu Phật - bà Đỗ Thị Doanh vẫn được duy trì theo lệ cũ. Ngày 27/6/2025, Hội Lạng (lễ hội chùa Phúc Thắng, đền Thượng), xã Song Lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (nay là xã Thư Trì, tỉnh Hưng Yên) đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; trước đó, năm 1989, chùa Phúc Thắng đã được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia).