NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA NGÔI ĐÌNH TRĂM CỘT ĐA NGƯU
Đã bao đời nay, không chỉ người dân Tân Tiến, Văn Giang mà những ai ở Hưng Yên đều tự hào về một ngôi đình độc đáo, có một không hai của quê hương mình, đó là đình Đa Ngưu. Đình còn có tên gọi khác là Đình trăm cột, tọa lạc giữa làng Đa Ngưu, xã Tân Tiến, huyện Văn Giang. Đây là vùng đất có địa thế cao đẹp, thoáng mát, "có dáng trâu nằm, có 72 ông thần đất".
Đình là nơi thờ Đức Thánh Chử Đồng Tử cùng nhị vị phu nhân là Tiên Dung Công chúa, con gái Vua Hùng thứ 18, được phong tặng là Thượng Tôn thần, Đẳng Thiên Tôn thần và Tây Sa Công chúa, được phong tặng là Nội Trạch Tây Cung Công chúa, Huyền diệu Tôn thần. Chử Đồng Tử là một trong “tứ bất tử” trong tín ngưỡng văn hóa Việt Nam, gồm: Thánh Chử Đồng Tử, Tản Viên Sơn Thánh, Thánh Gióng và Thánh mẫu Liễu Hạnh.
Truyền thuyết kể rằng Chử Đồng Tử sinh ra vào đời Hùng Vương thứ 18, ở làng Chử Xá, phủ Khoái Châu trong một gia đình nhân đức. Không may mẹ mất sớm, nhà bị hỏa hoạn, chỉ còn lại hai cha con với một cái khố vải thay nhau dùng. Khi cha qua đời, không nỡ để cha chết trần, Chử Đồng Tử lấy khố liệm cho cha, còn mình đánh cá kiếm sống, có người qua lại thì ngâm mình xuống nước. Trong một lần nấp mình dưới cát tránh đúng màn quây tắm của công chúa Tiên Dung, hai người kết duyên vợ chồng. Vì vua cha nổi giận khi nghe tin con gái lấy kẻ nghèo hèn, Tiên Dung ở lại cùng Đồng Tử, mở bến chợ, lập phố xá buôn bán tấp nập. Một thời gian, hai người theo học đạo cứu giúp dân nghèo. Sau, Chử Đồng Tử có thêm người vợ thứ là Tây Nương. Tiếng đồn về lòng nhân đức, sự giàu có của 3 vợ chồng Chử Đồng Tử - Tiên Dung - Tây Nương tới tai vua Hùng. Ba người không dám chống cự quân của vua cha tới đánh vì cho rằng họ làm phản. Nửa đêm, bỗng nhiên gió nổi sấm rền, cả nhà cửa và người, vật trong chốc lát cùng bay lên trời, để lại một khoảng đầm rộng. Thương tiếc, nhớ ơn ngài, dân chúng lập đền thờ ở nhiều nơi.
Căn cứ vào dấu tích lăng bà chúa còn lại và sắc phong của triều đại vua Quang Trung nhị niên (1789), ngôi đình được xây dựng năm Canh Thìn (1520), niên hiệu Quang Thiệu thứ năm, đời vua Lê Chiêu Tông (1516-1522), do hai anh em Cống cả, Cống hai đứng lên tổ chức xây dựng ở nơi có địa thế cao, đẹp, thoáng mát, được truyền tụng là đất “Hình nhân quái bảng”. Qua các triều đại phong kiến, đình được trùng tu, tôn tạo nhiều lần. Đến thời Nguyễn, năm Duy Tân thứ tư (1910), đình được trùng tu lại theo kiến trúc tiền Nhất hậu Đinh, gồm 03 tòa: tiền đình, trung đình và hậu cung. Bộ vì hai tòa tiền đình, hậu cung kết cấu kiểu con chồng đấu sen. Đầu hồi bố trí 2 tầng 8 mái, mỗi tòa 4 mặt hiên. Cộng 4 hàng cột bên trong và 4 hàng cột hiên nên mỗi nhà đủ 50 cột, tính chung, cả đình vừa hết 100 cột.
Riêng chuyện làm sao để dựng được ngôi đình vừa hết 100 chiếc cột này đã là một điểm rất độc đáo này của ngôi đình, đến nay còn được lưu truyền lại trong lời kể của các bậc cao niên trong làng. Chuyện kể rằng, lúc khởi dựng đình, các cụ bô lão trong làng cho chuyển về đủ 101 cây cột lim và chiêu mộ thợ giỏi ở khắp nơi về trổ tài dựng ngôi đình lớn gồm 2 tòa nhà vững chãi, cân đối mà lại phải vừa hết số cột lim (số lẻ), trong đó các xà, cột đều bắt vai nhau bằng đố mộng, không sử dụng một chiếc đinh nào… Các phường thợ sau khi nghe yêu cầu của các cụ đều lắc đầu xua tay và rời đi. Việc dựng ngôi đình tưởng chừng không khả thi nữa khi các cụ nhất quyết giữ ý định ban đầu. May sao, một khoảng thời gian sau đó, có một phường thợ đến xin nhận làm đình. Ông thợ cả ung dung trình bày cách làm: Sẽ dùng đủ 100 cột. Chiếc còn lại chúng tôi chẻ ra làm cán đục. Vậy là đình làng vẫn đủ 101 cây cột. Vậy là cái tâm của các cụ đã gặp cái tài, cái tầm của các nghệ nhân rồi, đình làng có cơ hội xây dựng rồi, cả làng ai cũng vui mừng, phấn khởi.
Sau một thời gian dài, ngôi đình quy mô bề thế nhất vùng đã hình thành từ bao tâm huyết, đóng góp của cải của dân làng và công sức, trí tuệ, tài hoa của các nghệ nhân. Tòa tiền đình dài 20 m, rộng 7,7 m chia làm 3 gian, kiến trúc theo kiểu đấu sen chồng rường, tất cả những con chồng, đấu cốn đều được chạm trổ rất tinh vi, đầu nóc được chạm trổ theo hình hổ phù, trông khá đặc biệt. Toàn bộ phía trước và hai hồi đều đóng cửa bức bàn cao 2,25 m trên lắp chấn song. Gian chính giữa gọi là lòng nước để dùng tế lễ, còn 4 gian bên đều bắc sàn làm hai cấp. Riêng cửa trung tâm, mặt trước cửa cao tới 2,85 m, mỗi cánh rộng 1,2 m, các đầu bảy và ván gió ở hai đầu cửa được chạm trổ hoa lá long quần uốn khúc, mặt trước để hiên rộng 1,4m có các cột hiên to sừng sững tạo nên thế vững vàng của di tích. Toàn bộ tòa tiền đình có 40 cột, cột cái cao 4,2 m, đường kính rộng 0,45 m, cột quân cao 3,1 m, đường kính rộng 0,35 m. Gian trung tâm của tòa tiền đình kiến trúc cầu kỳ hơn, 6 cột trung tâm của gian giữa có 6 đầu đu đỡ xà, các đầu ly đều được chạm trổ hình con rồng có 3 con hoa văn còn giữ nguyên dáng dấp thời Lê, 3 con được sửa lại vào thời Nguyễn nên trông còn hùng dũng hơn. Các bức đại tự lớn gian trung tâm được chạm trổ hoa lá, long quần, mây tụ.
Tòa trung đình được xây áp sát vào tòa tiền đình, mái cao gắn chặt vào nhau tạo thành lòng máng, đi trong đình không có sự phân biệt giữa hai tòa. Trung đình được thiết kế tương tự như tiền đình, có 44 cột được chạm trổ hoa văn tinh xảo, là nơi để trang trí các đồ tế lễ. Các hàng cửa võng được chạm trổ lưỡng long chầu nguyệt, phía trước chạm rồng phượng, hoa lá tinh vi, ở giữa có bức đại tự “Thánh cung vạn tuế”. Các bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng khảm trai được treo ở các cột và trước ban thờ để ca ngợi các vị thần được thờ cúng ở đình.
Tòa hậu cung có chiều dài 7,6m, rộng 4,7m, trung tâm đặt một bàn thờ rộng 2,8 m, cao 1,2 m, trên là 3 cỗ ngai và bài vị Thánh Chử Đồng Tử và hai phu nhân. Trên cột còn treo câu đối ca ngợi công đức, sự anh linh của Đức Thánh Chử.
Cổng tam quan xây 4 trụ làm 3 lối ra vào. Cổng phụ bên phải có chữ “Đa văn vi phú” (Giàu về văn hiến); cổng phụ bên trái có chữ “Dân lạc điềm hy” (Dân vui vẻ là điềm tốt). Trước cửa và phái sau đình có 2 giếng ngọc trồng hoa sen. Đây là nơi dân làng lấy nước làm lễ mộc dục (tắm tượng Phật, tượng Thánh) mỗi khi mở hội.
Đình Đa Ngưu là một di tích đồ sộ còn khá hoàn chỉnh về kiến trúc và điêu khắc mỹ thuật. Không chỉ để lại những câu chuyện li kỳ về quá trình chọn đất, dựng đình với đủ 101 cây cột lim, đình Đa Ngưu còn là chứng nhân của những sự kiện lịch sử quan trọng. Trong đó, có sự kiện Phó Đức Chính đã đem tổ chức của mình về đây gây dựng cơ sở chuẩn bị chống Pháp.
Hiện nay, tại đình còn lưu giữ được một số hiện vật quý như: 04 đạo sắc phong thời Nguyễn, 01 bức tranh, 01 câu đối khảm trai.
Hằng năm, nhân dân thường tổ chức lễ hội từ ngày 12 đến 15 tháng 2 âm lịch. Trong lễ hội ngoài phần tế lễ, rước kiệu còn diễn ra các trò chơi dân gian.
Đình Đa Ngưu được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia tại Quyết định số 1568-VH/TB, ngày 20/4/1995 của Bộ Văn hóa - Thông tin.
THANH MAI