Lê Xuân Tê
I – Những ngôi Đền Tiết Phụ xưa
Đền Phạm Thị Thuận. Là đền thờ tiết phụ Phạm Thị Thuận ở xã Tiên Cầu (nay là thôn Tiên Cầu, xã Hiệp Cường), huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Bà là vợ của Kim Sơn hầu Vũ Đình Xứng đời Lê. Khi Vũ Đình Xứng mất thì bà không ăn uống mà chết theo. Triều đình hay tin, sắc phong là “Tiết phụ”, ban cờ biển. Dân bản xã dựng đền thờ ở xã Tiên Cầu. Liêu quận công Vũ Ngọc Trác chính là con thứ hai của bà. Thời Lê Cảnh Hưng, chúa Trịnh Doanh thấy Vũ Ngọc Trác có công phò tá, nên ban cho thái ấp, phong làm Liêu quận công, khi mất dựng đền thờ ở xã ấy. Trước đền có voi đá, ngựa đá, lính hầu (đá) đứng chầu[1].
Đền thờ nghĩa phụ ở Khoái Châu. Đền ở xã Bình Lăng[2], huyện Ân Thi. Bà họ Từ, tên tự là Nhị Khanh (Từ Nhị Khanh), người xã Phấn Lục (có sách viết Phán Lục), là con gái của vị quan Từ Đạt, được gả cho Trọng Quỳ là con trai của quan Thiêm thư Phùng Lập Ngôn. Khi Lập Ngôn mất, Quỳ lêu lổng rượu chè cờ bạc, hằng ngày đánh tay đôi cùng người lái buôn quê xã Từ Ô, huyện Thanh Miện là Đỗ Tam. Một hôm đánh bạc, người vợ khóc lóc can ngăn nhưng Quỳ không nghe. Đỗ Tam bỏ ra trăm vạn tiền, còn Quỳ nghèo không thể bỏ tiền, đành lấy vợ mình ra để cược. Quỳ gieo quân ba lần đều sấp cả ba, đẩy nàng Nhị Khanh bị rơi vào tay lái buôn. Nhị Khanh xin được về nhà tiễn biệt các con một chút, Quỳ ưng thuận. Nhị Khanh về đến nhà, ôm lấy hai con, vỗ vào lưng mà nói rằng: “Cha con bạc tình, mẹ đau buồn lắm. Một cái chết với mẹ đâu có khó khăn gì. Nhưng mẹ nghĩ chỉ thương các con mà thôi”. Nói xong, tự thắt cổ chết. Sau có lệnh sai Quỳ đi đến Bắc phủ (nay là Hưng Hoá)[3], giữa đường kiệt sức ngủ thiếp đi, mơ thấy Nhị Khanh đến nói rằng: “Nhà Nhuận Hồ chấm dứt, năm Bính Tuất có binh đao lớn, có vị quý nhân họ Lê, từ miền tây bắc[4] xuất hiện. Chàng hãy gắng khuyên các con bền chí đi theo, thì thiếp dẫu chết cũng không nát”. Quỳ tỉnh giấc, trở về, nuôi dạy hai con. Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa ở Lam Điền[5], hai người con đem binh theo giúp, làm đến chức Thị nội. Đền do dân bản xã ấy phụng sự. Trước mộ có tạc ngựa đá, chầu hai bên tả hữu[6].
Đền Tiết Phụ ở Phù Ủng. Là đền thờ bà tiết phụ Phạm Thị Viện, làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, sau là xã Đô Lương, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Bà là người có nhan sắc, lấy chồng là giám sinh họ Lê, sinh được bốn con. Chồng chết, bà ở vậy nuôi con. Đến đầu đời Lê, bọn cường hào trong vùng dụ dỗ, đe doạ bà, nhưng bà một mực giữ trọn đạo tiết. Niên hiệu Thái Hoà thứ 1 (1443), bà được vua ban 3 chữ: “Tiết phụ môn”. Thời Hồng Đức, bà được quan triều thần Thân Nhân Trung đem sự việc soạn khắc vào bia đá để lưu danh sự tích[7].
Ba thí dụ nêu trên, tuy còn có những hạn chế nhất định của quan niệm Nho giáo, hệ tư tưởng phong kiến, nhưng nó cũng phản ánh được những vấn đề xã hội mà ở thời đại đó sản sinh ra, và câu chuyện tồn tại, sống trong dân gian, được lưu giữ ở mỗi luỹ tre làng, gây ảnh hưởng, quan niệm tốt, được thời gian và dư luận trân trọng, còn mãi đến ngày nay.
II – Những người phụ nữ Hưng Yên thời đại Hồ Chí Minh
Truyền thống yêu nước anh hùng như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt những trang sử vàng của dân tộc Việt Nam. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc, Hưng Yên có gần 23.000 anh hùng liệt sỹ; 2.048 Bà mẹ Việt Nam anh hùng; 78 tập thể, 30 cá nhân được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 7.235 bệnh binh; 9.814 thương binh; 2.273 người bị địch bắt tù đầy… Những gương sáng tiêu biểu cho tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, như Trung tướng Nguyễn Bình, nhà cách mạng Tô Hiệu, Anh hùng lực lượng vũ trang Bùi Thị Cúc…
2.048 Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Một con số không hề nhỏ. Con số 2.048 này thể hiện nhiều điều: Một là, chứng minh rất rõ sự cống hiến to lớn của các mẹ, các chị đối với quê hương đất nước, đối với non sông. Một sự tự hào vô bờ bến mà không có gì có thể so sánh nổi. Hai là, cho thấy sự hy sinh, sự mất mát quá lớn trong cuộc đời các mẹ, các chị, ở mỗi mái tranh, trong mỗi con người. Nếu tính từ năm 1858 khi người Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, đến năm 1979, trận chiến quyết liệt tấn công và chiến thắng ở biên giới Tây Nam, thời gian là 121 năm. Trận chiến giành độc lập tự do 121 năm, trên trái đất này, hiếm có một dân tộc nào có cuộc chiến đau thương, anh dũng, lâu dài đến vậy.
Trong ngàn hoàn cảnh, muôn vạn nỗi đau, người mẹ Việt Nam, người mẹ, người chị trên đất Hưng Yên, đã gồng mình vươn lên, vượt qua bão táp, giành chiến thắng vĩ đại, là những tấm gương rạng rỡ chói ngời, tô đẹp cho quê hương, cho non sông đất nước.
Trong số 2.048 ấy, bà mẹ có một con độc nhất liệt sỹ là 793 mẹ; có hai con liệt sỹ 1.060 mẹ; có ba con liệt sỹ 57 mẹ; có bốn con là liệt sỹ 5 mẹ; có chồng và một con liệt sỹ 123 mẹ; có chồng và hai con liệt sỹ là 2 mẹ; bản thân mẹ là liệt sỹ và mẹ lại có một con liệt sỹ là 4 mẹ.
Năm bà mẹ có 4 con là liệt sỹ, đau thương không gì tả nổi và sánh được. Xin được trân trọng nhớ ơn các mẹ.
Mẹ Nguyễn Thị Nhất, xã Minh Hoàng, Phù Cừ, con Nguyễn Đức Căn hy sinh năm 1951; Nguyễn Đức Lóc (Thăng) hy sinh năm 1951; Nguyễn Đức Bản hy sinh năm 1952; Nguyễn Đức Thắng (Đại) hy sinh tại mặt trận Lâm Đồng trước khi quân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam một tháng.
Mẹ Nguyễn Thị Dân, xã Quang Hưng, Phù Cừ, con Quách Văn Nạp, Quách Văn Huynh, Quách Văn Đệ, Quách Văn Bân. Điều rất đặc biệt là cả bốn anh em, con của mẹ Dân, đều hy sinh trong năm 1968, năm khốc liệt nhất của cuộc chiến, khi tuổi đời còn rất trẻ.
Mẹ Đặng Thị Khiết, xã Quang Hưng, Phù Cừ, con Phí Ngọc Lóm hy sinh năm 1951; Phí Ngọc Nồi hy sinh năm 1952; Phí Ngọc Miêng hy sinh năm 1953; Phí Ngọc Ngần hy sinh năm 1954; đều trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp.
Mẹ Nguyễn Thị Cẩm, xã Ngọc Long, Yên Mỹ, con Đỗ Văn Duệ hy sinh năm 1952; Đỗ Bác Sỹ hy sinh năm 1953; con dâu Chu Thị Lý hy sinh năm 1954; và Đỗ Đình Thi hy sinh năm 1970.
Mẹ Nguyễn Thị Áo, xã Thuỵ Lôi, Tiên Lữ, con Đoàn Danh Chí hy sinh năm 1954; Đoàn Văn Tuệ hy sinh năm 1968; Đoàn Kim Trúc hy sinh năm 1968; Đoàn Văn Khánh hy sinh năm 1972.
Lịch sử mảnh đất, con người Hưng Yên, sẽ khắc ghi mãi mãi bức ảnh “Tiễn thanh niên lên đường nhập ngũ” chụp năm 1972[8], đó là bức ảnh cụ Đoàn Văn Tôn, người xã Thuỵ Lôi, huyện Tiên Lữ, chồng của cụ bà Nguyễn Thị Áo, có nhiều con là liệt sỹ nhất trên mảnh đất Hưng Yên: Cụ đang tươi cười rạng rỡ, động viên, dặn dò các chàng trai, thanh niên quê hương hăng hái lên đường làm nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ đất nước, giữ gìn sự bình yên cho Tổ quốc, cho non sông.
Mẹ Hưng Yên có 3 con liệt sỹ là 57 mẹ. Trong số 57 mẹ, thì có 2 bà mẹ có 3 con cùng bị quân giặc giết hại trong một ngày.
Mẹ Đỗ Thị Vịnh, ở xã Long Hưng, huyện Văn Giang, có ba người con là các ông: Đào Tiễm, Đào Tiềm, Đào Yêm, chiến đấu chống Pháp, hy sinh cũng trong cùng một ngày, đó là ngày đau thương nhất của gia đình, làng xã, ngày mồng 7 tháng 12 năm 1947.
Mẹ Nguyễn Thị Nhẫn, ở thôn Kim Huy (nay là tổ dân phố Kim Huy, phường Phan Đình Phùng, thị xã Mỹ Hào), có ba người con là các ông: Nguyễn Văn Trường, Nguyễn Văn Thế, Nguyễn Văn Tiến, các ông đều tham gia công tác cách mạng, và bị địch bắn tại quê hương Kim Huy cùng một ngày đông, tháng 12 năm 1948.
Đau thương chồng chất đau thương. Xin được kể thêm: Mẹ Nguyễn Thị Nhị, ở phường Minh Khai, thành phố Hưng Yên, cả ba người con là các ông: Lưu Văn Bích, Lưu Văn Dần, Lưu Văn Tỵ đều hy sinh vào tháng 1 năm 1950 tại mảnh đất Hưng Yên kiên cường anh dũng. Mẹ Trương Thị Nguôi, quê ở thị trấn Ân Thi, Hưng Yên, có ba người con là các ông: Lâm Quang Lập (Kim Lập), Lâm Quang Lợi, Lâm Quang Lộc, lần lượt hy sinh ba năm liên tiếp, 1950, 1951, 1952, đó là những năm tháng khốc liệt, gian nan nhất của quân dân Hưng Yên chiến đấu với kẻ thù.
Có chồng và một con liệt sỹ toàn tỉnh Hưng Yên có 123 mẹ.
Đơn cử: Mẹ Phạm Thị Quýt, xã Cẩm Xá, thị xã Mỹ Hào, có chồng là ông Tạ Văn Các, hy sinh tháng 6 năm 1950; mười năm tháng sau (9. 1951) thì người con trai là anh Tạ Văn Lệ cũng anh dũng hy sinh.
Hai con liệt sỹ, có 1.060 bà mẹ.
Tính đến thời điểm 2015, tỉnh Hưng Yên có 1.060 bà mẹ có 2 con là liệt sỹ, trong đó huyện Ân Thi có 190 trường hợp; huyện Kim Động, huyện Phù Cừ, hai huyện này đều có 134 trường hợp; huyện Tiên Lữ có 130; huyện Khoái Châu có 110; huyện Yên Mỹ có 106 trường hợp…
Trong số 1.060 đó, có: Mẹ Ngô Thị Lý, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, thân sinh của hai nhà yêu nước, hai chiến sỹ, hai liệt sỹ Tô Chấn sinh năm 1904, hy sinh 1936; Tô Hiệu sinh năm 1912, hy sinh 07. 3. 1944 tại nhà ngục Sơn La nổi tiếng. Mẹ Trần Thị Thu, xã Quảng Châu, thành phố Hưng Yên, có hai liệt sỹ Dương Văn Nam, hy sinh năm 1972; liệt sỹ Dương Văn Hoà, hy sinh năm 1975.
Mẹ có một con độc nhất liệt sỹ là 793 mẹ.
Tỉnh Hưng Yên có 793 bà mẹ có một con độc nhất là liệt sỹ. Trong đó huyện Khoái Châu có 140 trường hợp; huyện Văn Giang có 75; huyện Yên Mỹ 73; huyện Văn Lâm có 71; huyện Phù Cừ có 70 trường hợp...
793 bà mẹ có một con độc nhất, đó là 793 gia đình, 793 hoàn cảnh, 793 nỗi đau xé lòng, 793 mất mát lớn không gì có thể bù đắp được, nhưng đó cũng là 793 tấm gương sáng chói, 793 chân dung tượng đài…
III – Dựng tiếp “những ngôi đền tiết phụ”
Trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, hàng vạn người con Hưng Yên đã anh dũng chiến đấu, hy sinh, hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình, mãi mãi nằm lại trên các chiến trường khắp mọi miền đất nước.
Trong mất mát, hy sinh ấy, có nỗi đau tột cùng của những người vợ mất chồng, những người mẹ mất con.
Ba lần tiễn con đi
Hai lần khóc thầm lặng lẽ
Các anh không về, mình mẹ lặng im…[9]
Trân trọng ghi nhận những đóng góp xương máu của quân và dân Hưng Yên, Giáo sư – Anh hùng lao động Vũ Khiêu đã kính đề đôi câu đối:
Mảnh đất Hưng Yên, vạn đấng anh hùng từng ngã xuống,
Bầu trời Đại Việt, ngàn thu khí tiết mãi soi cao[10].
Ghi nhớ công ơn của những người con quê hương đã “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, những mẹ Việt Nam anh hùng nén nỗi đau vĩnh viễn mất người thân cho đất nước hoà bình, cho một Hưng Yên phồn thịnh.
Với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, trong nhiều năm qua, Đảng bộ và nhân dân Hưng yên luôn coi trọng công tác đền ơn đáp nghĩa là nhiệm vụ chính trị quan trọng của các cấp uỷ đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân.
Hiện nay, Đảng bộ và Nhân dân Hưng Yên luôn coi trọng công tác đền ơn đáp nghĩa với nhiều hình thức tri ân và tôn vinh. Mỗi năm, tỉnh đã dành từ 25 đến 30 tỷ đồng hỗ trợ, nâng cao đời sống, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, các mẹ Việt Nam anh hùng, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên Đán và ngày 27 - 7 hàng năm.
Bên cạnh việc thực hiện tốt các chế độ, chính sách theo quy định của nhà nước, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, ủng hộ và xây dựng “quỹ đền ơn đáp nghĩa” từ tỉnh đến cơ sở huy động đạt từ 2,5 đến 3 tỷ một năm. Nguồn quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” có ý nghĩa rất lớn cho việc xây dựng, sửa chữa hàng trăm ngôi nhà người có công và thân nhân người có công, động viên thăm hỏi, hỗ trợ hàng nghìn người có công vào các dịp lễ tết, lúc khó khăn.
Với những đóng góp đó, quân dân Hưng Yên đã đóng góp phần không nhỏ vào thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ Tổ quốc, đưa giang sơn về một mối, đưa dân tộc bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập tự do, ấm no và hạnh phúc.
Phụ nữ Hưng Yên – những người vợ, người mẹ đã chiến đấu bằng tất cả tình yêu và ý chí kiên cường, là hậu phương vững chắc cho chồng, con vững tin, chắc tay súng nơi biên cương, hải đảo. Họ đã tạc vào lịch sử, tạc vào thời đại chân dung một tượng đài huyền thoại, giản dị đời thường nhưng vĩ đại: Chân dung Bà mẹ Việt Nam anh hùng – đó mãi mãi là những ngôi đền tiết phụ vô giá.