PHẠM ĐỨC KHA
Tổ tiên nhà Trần là người ở đất Mân (Quế Lâm, Trung quốc), sau chuyển sang làm nghề đánh cá tại đất Đông Triều (Quảng Ninh). Đến đời Trần Kinh thì chuyển về Tức Mặc (Nam Định) và qua đời ở đó”. Con trai Trần Kinh là Trần Hấp, nhờ tìm được thế đất tốt đã dời mộ bố về táng tại hương Tinh Cương (nay là xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên) và cư trú ở đó. Từ nghề đánh cá họ Trần chuyển dần lên bờ làm ruộng và trở lên giàu có, ngày càng có thế lực mạnh tạo tiền đề bước vào vũ đài chính trị.
Từ hương Tinh Cương, phủ Long Hưng nhà Trần đã tiến về Thăng Long, nhờ cuộc hôn nhân giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh, nhà Trần đã mở nghiệp đế vương. Khi đã lấy được thiên hạ, nhà Trần lại chọn hương Tinh Cương làm nơi đặt tôn miếu và xây dựng lăng tẩm an táng các vị vua, hoàng hậu đầu triều Trần. Thái tổ Trần Thừa được an táng tại Thọ Lăng; Thái Tông táng tại Chiêu Lăng, Thánh Tông táng tại Dụ Lăng, Nhân Tông táng tại Đức Lăng.
Về việc an táng các vua Trần sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép “Giáp Ngọ, năm thứ 3 (1234) (Tống, Đoan Bình năm thứ 1), mùa Xuân, tháng giêng, ngày 18, Thượng hoàng (Trần Thừa) băng ở cung Phụ Thiên, thọ 51 tuổi.
Mùa Thu, tháng 8, ngày 28, chôn ở Thọ Lăng, phủ Long Hưng (lăng ở hương Tinh Cương, Chiêu Lăng, Dụ Lăng, Đức Lăng, ba lăng đều ở hương ấy) miếu hiệu là Huy Tôn, thụy là Khai vận lập cực hoằng nhân ứng đạo thuần chân chí đức thần vũ, thánh văn thùy dụ chí hiếu hoàng đế”.
“Đinh Sửu, năm thứ 5 (1277) (Tống, Cảnh Viêm năm thứ 2, Nguyên, Chí Thanh năm thứ 14), mùa Hạ, tháng 4, ngày mùng 1, Thượng Hoàng (Thái Tông) băng ở cung Vạn Thọ…
Mùa Đông, tháng 10, ngày mùng 4, chôn ở Chiêu Lăng, miếu hiệu là Thái Tôn), thụy là Thống thiên ngự cực long công mậu đức hiển hòa hựu thuận thần văn thánh võ nguyên hiếu hoàng đế” .
“Canh Dần, năm thứ 6 (1290), (Nguyên, Chí Thanh năm thứ 27). Tháng 5 ngày 25, thượng hoàng (Thánh Tông) băng ở cung Nhân Thọ.
Mùa Đông, tháng 12 ngày 15, chôn Thượng Hoàng ở Dụ Lăng. Miếu hiệu là Thánh Tôn. Truy tôn là Huyền công thịnh đức nhân minh văn võ tuyên hiếu hoàng đế”.
“Mậu Thân, năm thứ 16 (1308), (Nguyên Vũ Tôn Hải Sơn, Chí Đại năm thứ 1), mùa Đông, tháng 11, ngày mùng 3, Thượng hoàng (Nhân Tông) băng ở am Ngọa Sơn, núi Yên Tử.
Canh Tuất, năm thứ 18 (1309), mùa thu, tháng 9 ngày 16, rước linh cữu của Thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức, phủ long Hưng… Đem Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng Thái hậu hợp táng ở đấy”.
Để bảo vệ khu lăng tẩm nhà Trần, Thái sư Trần Thủ Độ đã cho đào một con sông (sông Thái Sư). Cửa sông bắt nguồn từ sông Luộc với dòng chảy quanh co uốn khúc tới làng Mẽ (xã Long Hưng ngày nay) thì tách làm đôi: một nhánh chảy sang phía Tây qua các làng Đặng Xá, Lê Xá, Tam Đường, Dương Xá… để rồi đổ ra cửa sông Tịnh Xuyên. Một nhánh từ Mẽ chảy xuôi xuống phía Đông Nam qua các làng Khám, Bùi, Quan Chiêm, Khuốc, Nại, Khống rồi chảy ra sông Nông Kỳ. Dòng chảy của dòng sông này chạy suốt từ Bắc xuống Nam vùng Ngự Thiên bao quanh khu lăng tẩm Tam Đường và vùng Phù Ngự.
Sông Thái Sư vừa là con đường giao thông thủy, vừa là một chiến hào bảo vệ khu lăng tẩm Tam Đường và vùng Phù Ngự. Dọc triền sông này nhà Trần đã xây dựng những đồn lũy, tiền tuyến phòng thủ cho cả hai khu mà các tên làng xã đến nay vẫn phản ánh những đồn lũy thời Trần như làng Quan Chiêm - Nơi đặt trạm quan sát, làng Khám - Nơi đặt tiền đồn để kiểm tra những người ra vào khu vực này.
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ nhất. Khi quân Nguyên Mông đánh vào kinh thành Thăng Long, Trần Thị Dung, thân mẫu của Lý Thuận Thiên và Lý Chiêu Hoàng, nhạc mẫu của vua Trần Thái Tông đã đưa tất cả hoàng tộc nhà Trần về Long Hưng sơ tán. Hiện nay ở vùng đất Long Hưng vẫn còn những địa danh liên quan đến sự kiện lịch sử này: Làng Nội, nơi ở của nội tộc nhà vua; Triều Quyến, nơi ở của gia quyến triều đình; làng Phù Ngự, nơi ở của bà Trần Thị Dung và lực lượng hậu cần; Làng Vế - cửa quan bế cửa án ngữ, canh gác phía ngoài.
Trong kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông, các vua Trần thường về bái yết Sơn Lăng, báo tin thắng trận. Điều này được ghi chép khá cụ thể trong các thư tịch cổ.
- Sách “Toàn thư” chép mùa thu năm Kỷ Mùi (1259) vua (Trần Thánh Tông) bái yết Sơn lăng cho đặt quan Sơn lăng và phong các cung tần của tiên đế (Thái Tông) để thờ cúng.
“Năm 1287, tháng 5, ngày 15, hai vua Trần đã kéo quân từ phủ Trường Yên về bái yết các lăng ở Long Hưng. Ngày 20, hai vua tiến quân đóng tại bến Đại Mang (cách hương Tinh Cương khoảng 1 km), bắt được tổng quản nhà Nguyên là Trương Hiến. Ngày hôm sau đánh bại địch tại Tây Kết, quân giặc chết và bị thương rất nhiều, chém được đầu Nguyên soái Toa Đô”.
Đặc biệt lễ mừng chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ 3 (1288) trước khi khải hoàn về kinh đô, các vua đã được tổ chức long trọng tại khu tôn miếu Long Hưng. Sách “Thái Bình địa dư chí” mục A Sào thần tích ghi: sau khi thắng trận Hưng Đạo Vương cùng về Long Hưng mừng chiến thắng được vua phong chức Nguyên soái Hưng Đạo đại vương. Cùng sự kiện này sách "Đại việt sử ký toàn thư chép": “Năm Mậu Tý (1288), hai vua trở về Long Hưng, ngày 17 (tháng 3), đem tù binh là các tướng giặc bị bắt là Tích Lệ Cơ, Nguyên soái Ô Mã Nhi, Tham chính Sảm Đoạn, Phàn Tiếp, Điền nguyên soái cùng các vạn hộ, thiên hộ làm lễ dâng thắng trận tại Chiêu lăng”.
Như vậy, lịch sử đã ghi nhận Long Hưng ngày nay chính là vùng đất “Thái Đường lăng linh dị giang sơn” của nhà Trần; Nơi nhà Trần đặt mộ tổ, xây dựng lăng để các vua và hoàng hậu đầu triều yên nghỉ và xây dựng miếu để phụng thờ. Đây là nơi nhà Trần thường về làm lễ hiến tiệp bái yết tổ tiên sau mỗi lần đại thắng quân Nguyên Mông. Hiện nay trên mảnh đất lịch sử này vẫn còn dấu vết của vườn Hành cung, vườn Màn (bến đỗ thuyền), bến Ngự…
Các đời kế tiếp sau từ Trần Hấp, Trần Lý, đến Thái tổ Trần Thừa đều được an táng tại đây. Các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông cùng các hoàng hậu, công chúa đầu triều Trần sau khi mất đều được đưa về đây an táng. Từ đời vua Trần Anh Tông trở đi, các vua nhà Trần băng hà không được đưa về Long Hưng mà đưa về an táng ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh).
Đến thời Lê, khi Lê Quý Đôn viết “Kiến văn tiểu lục” cũng khẳng định: “Xã Thái Đường, huyện Ngự Thiên có 4 cái lăng của Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông nhà Trần lại có lăng của 4 hoàng hậu ...”.
Thời Nguyễn, sách “Đồng Khánh ngự lãm dư địa chí lược” ghi cụ thể “Miếu thờ các vua Trần ở xã Thái Đường, hướng Nam, trước miếu có ba gò ấn kiếm, sau miếu có bảy gò thất tinh”.
Những lần Thái Đường của nhà Trần bị tàn phá đã được lịch sử ghi lại: “Mậu Tý, năm thứ 4 (1288), tháng 3 ngày 17, đem các tướng giặc bị bắt… làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu lăng. Trước đó quân Nguyên đã đào Chiêu Lăng muốn phá đi nhưng không chạm tới quan tài; đến khi giặc thua, chân ngựa đá ở lăng đều bị lấm bùn…”.
Sau giặc Nguyên đến giặc Chiêm Thành tàn phá Thái Đường. Đến thời giặc Minh xâm lược, chúng còn muốn xóa đi mọi dấu vết của nhà Trần nên đã tàn phá Thái Đường lăng, tên gọi phủ Long Hưng gắn với một thời huy hoàng của nhà Trần cũng bị đổi huyện Tân Hóa.
Đến thời Hậu Lê, khi quân Tây Sơn tiến quân ra Bắc đã tàn phá Thái Đường của nhà Trần. Sự kiện này được “Đại Nam nhất thống chí” chép như sau: “Mộ tổ nhà Trần ở Thái Đường, huyện Hưng Nhân, trước kia có bia nhưng từ sau khi Tây Sơn nổi lên thì bia này mất chỉ còn lại con rùa. Ở đây có miếu thờ 4 vị vua Trần: Thái tổ, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông”.
Đến thời Nguyễn, “vào năm Thành Thái thứ 6 (1894), mộ tổ nhà Trần ở xã Thái Đường được công sứ Mi-no (Minaut) cấp tiền công cho tu sửa tường điện bằng gạch, hàng năm cấp tiền 60 quan chi vào việc đèn hương phụng thờ” . Diện mạo của ba ngôi mộ vua Trần thời đó được mô tả như sau “Trước mộ có ba cột đá tròn, phía sau có khắc chữ vương; hai bên tả, hữu có kiếm thờ xếp thành hàng… công sứ Mi-no cấp tiền tu sửa. Nay bốn mặt tường hoa trông vào rất tôn nghiêm, trang nhã”.
Đến trước năm 1945, trên địa bàn Tam Đường vẫn còn đền thờ các vua Trần. Phía trước đền (phía Nam) có 3 ngôi mộ lớn là: Phần Trung, Phần Bụt, Phần Đa, chếch về phía Tây - ở vị trí cách đê sông Hồng gần 500 mét có một ngôi mộ cổ, nhân dân quen gọi là Phần Cựu. Phía Đông Bắc đền thờ có mả Tít, vườn màn, bến Ngự và chùa Bến. Phía sau đền thờ (phía Bắc) có 7 ngôi mộ khác đối diện với phần Trung, phần Bụt, phần Đa, tạo thành thế “tiền tam thai hậu thất tinh”.
Khu thất tinh gồm các phần Ốc, Quang, Ổi, Lợn, Mao, Gà, và phần Bà già. Theo dân gian phần Ốc là nơi đặt mộ cụ Trần Hấp, phần Quang là lăng mộ của Nguyên tổ Trần Lý, tất cả các phần còn lại trong khu “thất tinh” là nơi chôn cất các hoàng hậu, công chúa đầu triều Trần; các phần trong khu “thất tinh” đều đã bị phá hủy hoàn toàn, đất đã cấp cho dân sinh sống, canh tác ổn định từ giữa thế kỷ XX.
Các báo cáo khai quật khảo cổ liên quan đến khu di tích Tam Đường hiện đang lưu tại Viện Khảo cổ học cho biết về những lần khai quật khảo cổ học ở Tam Đường và có thể tổng thuật lại như sau:
Tháng 3 năm 1979, Viện Khảo cổ học kết hợp với Bảo tàng tỉnh Thái Bình khai quật một phế tích kiến trúc rộng 300 m2 tại Cồn Nhãn nằm trong khu vực giữa đường làng và phần mộ các vua Trần (nay là sân lễ hội đền Trần). Tại đây đã tìm thấy rất nhiều gạch ngói vụn xếp chồng lớp, có chỗ chồng đống lên nhau, trong đó có ngói mũi hài, ngói bò và các vật liệu của một bộ mái nhà, đào sâu xuống dưới 40 cm tìm thấy nhiều dải gạch hoa đóng nghiêng xuống nền đất sét như nêm cối. Hiện vật tìm thấy trong hố khai quật gồm 296 tiêu bản hiện vật. Các nhà khảo cổ đã kết luận: “Khu vực khai quật khảo cổ học nằm giữa khu “tiền tam thai, hậu thất tinh” nhà Trần. Nơi đây có hiện tượng đất mượn - người thời Trần chở đất từ nơi khác đến để đắp nền, sau đó mới xây dựng lên trên…”.
Năm 1980, Viện Khảo cổ học lại kết hợp với Bảo tàng tỉnh Thái Bình, khai quật di tích Tam Đường lần thứ 2; với hai vị trí là phần Bia và mộ phần Cựu:
Vị trí khai quật là phần Bia là cạnh ao đình Ngọc Đường. Hiện vật tìm thấy trong lần khai quật này có số lượng khoảng 290 hiện vật trong đó có những hiện vật độc đáo là đầu rồng bằng đất nung to nhỏ nhiều cỡ, ngói bò lớn có rồng đặt trên các bờ nóc. Các hiện vật này được đánh giá là có niên đại cuối thời Trần (giữa thế kỷ XV trở đi).
“Mộ phần Cựu nằm ở trước đền thờ các vua Trần chếch về phía Tây Nam. Cách đê sông Hồng khoảng 500 mét. Mộ nằm dưới một gò đất cao, cấu trúc khá phức tạp. Trong mộ có hai lớp quan và quách được ghép bởi các thanh gỗ dày sơn màu đỏ. Khi khai quật những tấm ván thiên của quan và mặt trên của quách đều bị mất. Trong quan tài, góc Tây Nam chứa than tro rất mịn, màu trắng xám. Lẫn trong tro than còn có nhiều đồng tiền bị rỉ nát, có đồng còn chữ “Khai nguyên thông bảo”. Cũng trong tro than tìm thấy một số cánh hoa và nhị hoa bằng kim loại màu vàng, một mẩu xương có vết cháy dở.
Bên ngoài quan tài, lẫn trong lớp than lót có hai quả chuông nhỏ bằng đồng để đối xứng trong lòng quách. Phía đuôi quan tài có 3 lọ sứ để sát nhau, kích thước cao 30 cm, đường kính miệng 10 cm, 3 lọ sứ không đựng gì bên trong.
Báo cáo khai quật khảo cổ học đã kết luận đây là một ngôi mộ thời Trần, người chết được đốt xác ở một nơi khác rồi chuyển tro than về đây chôn, chủ nhân là người theo đạo Phật và ít ra cũng phải là người trong hoàng tộc nhà Trần”.
Trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Bảo tàng tỉnh Thái Bình cũng đã hai lần tổ chức khai quật khảo cổ tại Tam Đường; tại phía Bắc phần mộ các vua Trần đã tìm thấy những tiêu bản hiện vật bằng đất nung có niên đại thời Trần giống với hiện vật của các lần khai quật do Viện Khảo cổ học thực hiện trước đó. Ở phía Nam phần mộ các vua Trần dưới lớp đất canh tác chỉ tìm thấy tầng sinh thổ. Bảo tàng tỉnh Thái Bình đã kết luận: Như vậy hành cung Long Hưng và tất cả các công trình phục vụ cho việc tế lễ ở tôn miếu của triều Trần đều đặt ở vị trí phía Bắc các ngôi mộ (phần sân lễ hội đền Trần hiện nay).
Qua kết quả các lần khai quật khảo cổ học tại Tam Đường có thể kết luận:
- Tam Đường là vùng đất đặt tôn miếu, và lăng mộ các vua và hoàng hậu đầu triều Trần (chính sử đã ghi).
- Tam Đường là nơi đặt hành cung Long Hưng để các vua Trần ngự trong những lần về làm lễ bái yết tổ tiên.
- Mặc dù từ năm 1320 trở đi các vua và hoàng hậu nhà Trần sau khi mất không được đưa về Thái Đường ở Long Hưng chôn cất nữa. Và từ năm 1381, vua Trần Phế đế đã cho đặt thần tượng của các vua Trần để thờ ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh) nhưng khu lăng mộ nhà Trần ở Thái Đường vẫn được nhà Trần quan tâm một cách đặc biệt và cho tiếp tục xây dựng những công trình lớn như nhà Bia để giữ gìn khu “sơn lăng cấm địa”. Chứng tỏ trong tâm thức nhà Trần, hương Tinh Cương - Thái Đường vẫn là đất phát tích, hưng nghiệp. Việc đưa các vua Trần đời sau về An Sinh là nơi có núi non hiểm trở chôn cất chỉ là việc bất đắc dĩ để tránh bị giặc Chiêm Thành tàn phá; đến triều Nguyễn và ngay cả thời kỳ Pháp thuộc, phần mộ các vua triều Trần vẫn được quan tâm tu bổ; hiện tại trong khuôn viên di tích quốc gia đặc biệt đền Trần có 03 ngôi mộ phần Trung, phần Bụt, phần Đa là phần mộ của ba vị vua đầu triều Trần là Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông.