Sức sống mãnh liệt của Chèo trong đời sống dân gian

 

                                                                                                      Mai Diên

Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian ở Việt Nam, được sinh ra và nuôi dưỡng từ dòng sữa mẹ dân gian. Loại hình sân khấu này mang tính quần chúng, giàu tính dân tộc và phát triển mạnh ở Đồng bằng Bắc Bộ. Không nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa hay sân khấu nào không xác định nôi chèo là Đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có Hưng Yên. Từ cái nôi ấy, sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, nghệ thuật chèo ngày càng phát triển và khẳng định được tầm quan trọng trong nền văn hóa dân gian dân tộc. Trải qua biết bao thế hệ, đến hôm nay những người con đất Việt - cả những người đang sống trên đất nước Việt Nam và những kiều bào ở xa Tổ quốc, luôn coi nghệ thuật chèo là một "viên ngọc long lanh sắc màu" trong kho tàng văn hoá nghệ thuật dân gian dân tộc.

  Từ bao đời nay, hát chèo đã trở thành một loại hình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật quen thuộc, nuôi dưỡng đời sống tinh thần của bao người dân bởi cái chất trữ tình đằm thắm, sâu sắc. Không biết chính xác người dân Hưng Yên mê chèo thế nào mà chỉ biết rằng, những người con nơi đây đều lớn lên bằng những điệu hát chèo qua lời ru của bà, của mẹ, của chị. Để rồi đến ngày lớn khôn, cũng là khi tình yêu hát chèo đã “ngấm” vào trái tim, vào niềm say mê của họ.

Xưa, khi đời sống chưa phát triển, các phương tiện nghe nhìn còn khan hiếm, các loại hình nghệ thuật hiện đại còn chưa xuất hiện thì món ăn tinh thần của người dân chủ yếu là các gánh hát và các chiếu chèo di động ở các làng xã. Niềm đam mê chèo của người dân được thể hiện qua câu ca:

"Ăn no rồi lại nằm khoèo

Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem

Chẳng thèm ăn chả ăn nem

Thèm ăn cơm tẻ thèm nghe hát chèo"

  Nhà thơ Nguyễn Bính đã diễn tả được rất đúng tâm trạng của những người mê chèo. Cứ mỗi độ xuân sang, người muôn nơi lại bồi hồi bởi sự thúc giục của trống chèo và những lời ca tiếng hát của nghệ nhân làng chèo. Điều đó được thể hiện qua những câu thơ:

"Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay 
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy 
Hội chèo làng Ðặng đi qua ngõ 
Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay"

  Dân gian mê chèo, bởi chèo diễn tả diễn tả cuộc sống bình dị, chân thực và thể hiện ước vọng về cuộc sống thanh bình, hạnh phúc của người dân nông thôn. Có người đến với chèo để nghe làn điệu chèo mượt mà, sâu lắng, thưởng thức tài nghệ của diễn viên hoặc đến với nhân vật mà mình yêu thích. Có người đến để được buồn, vui qua câu chuyện bi, hài đậm chất trữ tình. Nhưng cũng có người đến với chèo để sống lại cảm xúc của một thời tuổi trẻ, để đắm mình trong không gian làng quê xưa và cảm nhận những triết lý nhân sinh sâu sắc bởi trong nội dung các  tích chèo cổ, cái thiện luôn thắng cái ác và thông qua các nhân vật hề chèo hóm hỉnh, thông minh, nhân dân đã phê phán, đả kích những thói hư, tật xấu trong xã hội.

  Hơn nữa, đằng sau vẻ đẹp về nội dung và hình thức của các làn điệu chèo là vẻ đẹp tiềm ẩn. Vẻ đẹp ấy là một thứ tiềm ngôn ngữ, ẩn tàng sau mỗi lời thơ, làn điệu hay hoàn cảnh của nhân vật chèo. Đây là thứ ngôn ngữ không được diễn tả bằng lời nhưng chứa đựng những triết lý sâu sắc trong cuộc sống. Cảm nhận và lý giải tiềm ngôn ngữ không chỉ là một cách nhìn nhận vào bản chất mà còn là một cách tôn vinh vẻ đẹp và sức sống trường tồn cho nghệ thuật chèo.

  Đặc biệt, các vở chèo trong dân gian luôn mang đậm chất “đời”, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người nghe. Chất “đời” được thể hiện rõ nét qua những câu chuyện nho nhỏ từ đời sống như tác hại của uống rượu bia khi tham gia giao thông, nạn bạo hành gia đình, giáo dục con cái, ca ngợi tình làng nghĩa xóm, quê hương đổi mới… qua lời ca tiếng hát của những người “nghệ sỹ nông dân”, quanh năm chân lấm tay bùn. Ban ngày họ là những người lao động chân tay nhọc nhằn, vất vả nhưng khi đêm về, những người nông dân ấy lại biến mình thành nghệ sỹ thực thụ khi đắm mình trong những làn điệu chèo…

Nếu như cách đây 20 năm, toàn tỉnh mới có khoảng 50 đội chèo thì đến nay đã có hơn 500 chiếu chèo, đội chèo, câu lạc bộ hát chèo sinh hoạt ở các địa phương trong tỉnh. Những xã có phong trào hát chèo phát triển mạnh như: thôn Thiết Trụ (Bình Minh-Khoái Châu), thôn An Lạc (Đức Thắng-Tiên Lữ), thôn Lai Hạ (Hùng An-Kim Động), xã Ngọc Long, Đồng Thanh (Yên Mỹ), xã Hòa Lạc (Mỹ Hào) và một số xã ở Ân Thi, Phù Cừ (tỉnh Hưng Yên cũ) và các địa phương như: Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Kiến Xương, Vũ Thư, Thái Thụy, Tiền Hải… (tỉnh Thái Bình cũ). Đây là một trong những địa phương có phong trào chèo không chuyên phát triển mạnh nhất cả nước. Những người nông dân ở các làng quê ấy, dù tay vẫn cấy cày nhưng miệng vẫn hát chèo. Họ có thể hát ở bất cứ nơi đâu. Ở sân đình, nhà văn hóa, sân vận động hay giữa cánh đồng. Và sau những giờ lao động mệt nhọc, những người nông dân lại gặp nhau, lại tổ chức một chiếu chèo, hát say sưa, không mệt mỏi. Từ hát cho nhau nghe, dần họ bước lên sân khấu để diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, rồi đến tham dự các hội thi hội diễn trong và ngoài tỉnh, trên toàn quốc. Các hội thi, hội diễn không chuyên được tổ chức không thể thiếu được hát tiết mục chèo. Các giọng ca lên sân khấu đa phần là nông dân nhưng nhiều chất giọng ngọt ngào, mượt mà không kém các nghệ sỹ chuyên nghiệp. Phong trào hát chèo của ở các làng, xã cứ thế phát triển mạnh mẽ, và là niềm tự hào của người dân Hưng Yên.

Đã có một thời gian dài, sân khấu chèo vắng bóng người xem. Nhưng với sự nỗ lực của ngành Văn hóa trong những năm qua đã kéo được khán giả trở lại với sân khấu chèo, làm thức dậy lòng say mê nghệ thuật chèo trong nhân dân. Điều đáng mừng với những người làm công tác bảo tồn văn hóa là, bên cạnh những người quay lưng với nghệ thuật truyền thống, thì sân khấu chèo vẫn có sức cuốn hút với nhiều khản giả, trong đó có nhiều đối tượng là thanh thiếu niên và những người trẻ tuổi. Điều đó khẳng định vai trò của nghệ thuật chèo trong dân gian, nuôi dưỡng đời sống tinh thần cho nhân dân. Hoạt động của các đội chèo, chiếu chèo, câu lạc bộ hát chèo ở các làng, xã đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng, nâng cao đời sống tinh thần cho người dân, đẩy mạnh hoạt động văn hóa, văn nghệ, giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa của địa phương, thiết thực góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc giữa dòng chảy văn hóa thời kỳ hội nhập.

Về lĩnh vực nghệ thuật chuyên nghiệp, trong những năm qua, Nhà hát Chèo Hưng Yên đã dàn dựng được nhiều vở tiêu biểu như: “Tống Trân-Cúc Hoa”, “Tiếng chuông”, “Duyên Quê”, “Triệu Việt Vương”, “Duyên trời” và “Chàng sỹ tử và hoa tình yêu”. “Chàng rể”, “Chuyện nàng Quỳnh Hoa”, “ Phút giây định mệnh”... Có những vở được công diễn nhiều lần, đặc biệt là vở chèo cổ “Tống Trân - Cúc Hoa”…

"Tống Trân Cúc Hoa" được dàn dựng dựa trên một tích truyện dân gian nổi tiếng, với nội dung mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Nội dung vở diễn kể về cuộc tình duyên thủy chung, son sắt giữa Tống Trân - chàng trai Hưng Yên hiếu học và nàng Cúc Hoa - cô gái con nhà giàu, trọng nghĩa. Huyền sử về Tống Trân - Cúc Hoa do tác giả Giáo sư Hà Văn Cầu tái hiện qua những làn điệu chèo đậm chất dân ca Bắc Bộ; NSND Lê Hùng dàn dựng, được Nhà hát Chèo Hưng Yên tổ chức công diễn đã thành công, qua đó nói lên ước mơ về sự thành đạt của những người dân lao động; là tiếng nói lên án những thế lực tàn bạo đã ngăn cản, chà đạp lên tình yêu; đồng thời ngợi ca tấm lòng son sắt kiên trinh, ý chí phấn đấu vì hạnh phúc, vì tình yêu của những con người biết chống lại các thế lực đó cùng nhiều lễ tục khắc nghiệt...Đây là vở đã được biểu diễn nhiều lần, ở nhiều địa phương, thu hút đông đảo nhân dân đến thưởng thức, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng khán giả.

Đặc biệt, vở chèo “Tống Trân Cúc Hoa” còn được mang đi biểu diễn tại Nhà hát Hồ Gươm Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 78 năm ngày truyền thống Lực lượng An ninh nhân dân (12.7.1946 – 12.7.2024), 62 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát nhân dân (20.7.1962 – 20.7.2024). Khép lại vở diễn “Tống Trân - Cúc Hoa” với sự biểu diễn thành công của các nghệ sĩ đến từ nhà hát Chèo Hưng Yên đã đem đến cho công chúng thủ đô một đêm nghệ thuật đầy cảm xúc và ấn tượng./.

Người đăng: Nhà báo, Ths. Chu Huy Phương