Thăm đền Đa Hoà

 

 Dương Thị Cẩm

 Trong 3 ngày, từ ngày 28-30/11/2025, Hội Văn học nghệ thuật Hưng Yên tổ chức trại sáng tác cho các văn nghệ sĩ thuộc các chi hội Văn xuôi, Thơ, Văn nghệ dân gian và Lý luận phê bình văn học. Ngoài việc trao đổi, toạ đàm, chia sẻ kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn, nhà thơ ở trung ương, Hội còn tổ chức cho hội viên đi thực tế tại một số di tích, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, trong đó có đền Đa Hoà, xã Bình Minh huyện Khoái Châu (nay thuộc xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên).

Đền Đa Hòa gắn liền với truyền thuyết Chử Đồng Tử-Tiên Dung. Truyền thuyết kể về thiên tình sử Chử Đồng Tử - Tiên Dung kỳ lạ vào loại bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Một nàng công chúa lá ngọc cành vàng, xinh đẹp, quyền quý con vua Hùng Vương thứ 18 đã yêu, kết duyên với người con trai mồ côi, nghèo không mảnh vải che thân nhưng rất mực hiếu thảo, bất chấp mọi lễ giáo phong kiến, ngôi vị thứ bậc trong xã hội. Nhưng truyền thuyết này không chỉ dừng lại ở một mối tình mà còn ca ngợi sự cống hiến lớn lao của hai vợ chồng Chử Đồng Tử trong việc cứu giúp người đời khỏi bệnh tật, tai ương. Đi đến đâu họ cũng dang rộng vòng tay để cứu giúp người khó, người khổ, chỉ đường dẫn lối cho họ sống tốt hơn. Không chỉ là biểu tượng bất diệt của tình yêu mà Chử Đồng Tử-Tiên Dung còn tượng trưng cho chí hướng phát triển cộng đồng, khai phá khu vực đầm lầy chiêm trũng thành những cánh đồng trù phú, phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm, mở mang việc buôn bán thông thương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp. Chính vì thế mà người đời tôn Chử Đồng Tử là 1 trong “Tứ bất tử” của thần linh Việt, được nhân dân ở nhiều nơi vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng lập đền, miếu hương hỏa thờ phụng. Đền chính ở làng Đa Hoà nên còn gọi là đền Đa Hoà.

Đền Đa Hòa toạ lạc trên một khu đất cao, rộng hơn 18.000m2. Mặt đền hướng về phía tây, nhìn ra bãi sông nơi Chử Đồng Tử gặp Tiên Dung. Nhân dân ta đã đặt tên cho bãi ngoài sông Hồng này là bãi Tự Nhiên. Năm 1894, Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh, người làng Phú Thị, tổng Mễ Sở đã hưng công, vẽ kiểu, trùng tu thành ngôi đền khang trang như ngày nay. Đền gồm nghi môn ngoại, sân ngoài, nghi môn nội, chính điện và công trình phụ trợ với tổng cộng 18 tòa. Từ dưới sông nhìn lên, các tòa nhà như những con thuyền nối tiếp nhau trong một đoàn thuyền nhấp nhô trong sóng. Xung quanh đền, cây cối xanh tươi, toả bóng mát, ngày đêm rì rào lắng nghe sóng vỗ như kể về thiên tình sử của đôi trai gái đã gặp nhau và kết duyên đôi lứa, vượt qua sự phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Sự gặp gỡ giữa Chử Đồng Tử, con một người đánh cá nghèo, với Tiên Dung công chúa con vua Hùng, người đời gọi đó là duyên kỳ ngộ.

Khác với những di tích trong tỉnh, đền Đa Hoà ngoài thờ Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân còn phối thờ Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh và thành hoàng 9 làng thuộc tổng Mễ xưa (tổng Mễ Sở xưa có 8 làng: Phú Thị, Nhạn Tháp, Hoàng Trạch, Phú Trạch, Bằng Nha, Đa Hoà, Thiết Trụ, Mễ Sở, sau thêm làng Đồng Quê). Ngày lễ thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân, dân các làng rước thành hoàng làng ra nghênh tại đền, tiệc tan làng nào lại rước về làng đó.

Đứng trên nhà bia, nhìn bao quát cả vùng sông Hồng rộng lớn, sang tận cả bên kia sông-thành phố Hà Nội. Ven sông, lau sậy mọc um tùm, cao tới hơn 2 m. Nhìn tàu thuyền hối hả ngược xuôi trên sông. Nhớ về người xưa, cảnh cũ, ông Lê Xuân Tê, hội viên chi hội Văn nghệ dân gian bỗng nhiên hỏi: Theo truyền thuyết thì Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa nên duyên ở bãi Tự nhiên. Vậy sao nơi đây không còn địa danh Tự nhiên nhỉ. Nghe ông Tê hỏi, Chu Thanh Vân, hội viên chi hội Lý luận phê bình nhanh nhảu: Tên Tự nhiên bây giờ thuộc xã Chương Dương (trước là xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín), thành phố Hà Nội rồi ông ạ. Mà không những thế, ở Thường Tín còn có hẳn xã Tự Nhiên và bến đò Tự Nhiên, bến cảng Hồng Vân nối Thường Tín với Khoái Châu mình đấy. Ở đó cũng có đình Thượng, đình Hạ thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa. Cả 2 đình này đều đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia nhưng muộn hơn đền Đa Hoà.

Lần giở sử sách cũ, khoảng năm 1810, thời vua Gia Long, tổng Vĩnh Hưng, huyện Đông An (sau đổi gọi là huyện Khoái Châu), tỉnh Hưng Yên có xã Tự Nhiên Châu, phường Đông Ngang và phường Thổ Châu[1]. Thời Đồng Khánh (1887), tổng Vĩnh Hưng chỉ còn 2 phường mà không còn xã Tự Nhiên Châu[2], nhưng tổng Chương Dương, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội thì lại xuất hiện xã Tự Nhiên Châu[3] mà ở đầu thế kỷ XIX không có. Như vậy, trong vòng 70 năm, 1 bên từ có trở thành không, 1 bên từ không trở thành có, mà lại đối ngạn nhau.

Lý giải về việc này, ta có thể hiểu, dòng sông vốn bên lở bên bồi. Chỉ sau 1 đêm, nhiều làng mạc ven sông đã bị lở xuống sông do lũ xói. Hơn nữa, thế kỷ XIX, là thế kỷ của vỡ đê, mất mùa, đói kém ở Hưng Yên. Dân gian đã có câu:

Cái thời Tự Đức lên ngôi[4]

Cơm chẳng đầy nồi trẻ khóc như ri.

Từ thời vua Minh Mệnh (1820-1840), sau nhiều cố gắng hàn đắp đê nhưng vẫn không thành công, rồi cuối cùng bỏ đê. Đến thời vua Tự Đức, từ năm 1871 đến năm 1882, đê Văn Giang vỡ 12 năm liền, dân xiêu tán, đồng ruộng bỏ hoang, lau sậy um tùm, trở thành 1 vùng bãi sậy rộng mênh mông. Quan ở 5 tỉnh Bắc Kỳ (Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Nam Định) dâng sớ và đồ bản cho là thế nước sông Hồng chảy mạnh xói vào chỗ đê vỡ ở Văn Giang, là chỗ xung yếu, khó hàn đắp được[5].

Cũng chính vì đê vỡ, mà đền Đa Hoà ban đầu ở phía bờ sông, năm 1894, Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh đã hưng công, dựng lại đền ở phía trong đê để đảm bảo không bị dòng nước làm xói lở. Có thể xã Tự Nhiên Châu, do ảnh hưởng của dòng chảy đã chuyển sang bờ đối ngạn thuộc thành phố Hà Nội ngày nay.

Trải qua những biến thiên của lịch sử, cho dù ở Hưng Yên không còn tên địa danh Tự Nhiên, nhưng đền Đa Hoà thờ Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân vẫn là ngôi đền chính, thu hút đông đảo du khách thập phương đến chiêm bái, tế lễ. Cứ 3 năm 1 lần, lễ hội Chử Đồng Tử-Tiên Dung được tổ chức theo quy mô hàng tổng với sự tham gia của 9 làng trong tổng Mễ. Đây là một trong những lễ hội lớn của cả nước, là bức tranh về đời sống tinh thần phong phú, sinh động và mang giá trị văn hóa sâu sắc của người Việt cổ trong việc khai phá đầm lầy, phù sa ven sông Hồng từ hàng nghìn năm về trước. Ngày 02/02/2023, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra Quyết định số 153/QĐ-BVHTTDL công nhận Lễ hội đền Đa Hòa là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia.

 



[1] Tên làng xã Việt Nam thế kỷ XIX (từ Nghệ Tĩnh trở ra Bắc), Nxb. Khoa học xã hội xb năm 1981, 654 tr.; 24cm

[2] Tuyển tập địa chí Hưng Yên. Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí lược. Thư viện tỉnh Hưng Yên xb, 2012. Tr. 209

[3] Tư liệu văn hiến Thăng Long-Hà Nội. Tuyển tập địa chí. T. 3. Đồng Khánh địa dư chí. Tr. 591

[4] Vua Tự Đức lên ngôi từ cuối năm 1847, nhưng đến đầu năm 1848 mới chính thức đặt tên hiệu. Thời Tự Đức (1848-1883).

[5] HưngYên-biên niên những sự kiện lịch sử. Nxb. Lao động, năm 2021, 907 trang; 24cm.

Người đăng: Nhà báo, Ths. Chu Huy Phương