BẾN ĐẬU ĐỜI NGƯỜI

 

     

                                                                          PHẠM MINH GIANG

 

Mùa nước nổi năm ấy, con sông Vạn hiền như một dải lụa xám, ngày lững lờ phù sa, đêm đục ngầu tiếng gió. Tôi - Phạm Sinh - trở về từ quân ngũ sau mười năm làm lính cao xạ phòng không. Những năm chiến tranh, tôi quen nghe tiếng còi báo động, quen nhìn trời bằng đôi mắt căng như dây súng. Vậy mà đến khi hòa bình, thứ làm tôi bối rối nhất lại là tiếng mái chèo khua nhẹ giữa đêm mưa.

Tôi xin được chân dạy học ở một huyện ven sông. Trường nhỏ, mái ngói thấp, học trò chân đất. Đồng lương giáo viên ít ỏi, nhưng tôi thấy lòng mình yên hơn những ngày đứng bên khẩu pháo.

Rồi tôi gặp Xoan.

Hôm ấy tan trường, trời sụp tối rất nhanh. Tôi trú mưa dưới bến đò thì thấy một chiếc thuyền lớn cập bờ. Trên mui thuyền, một cô gái mặc áo nâu sòng đang kéo lưới. Mưa làm tóc cô bết vào má, nhưng đôi mắt thì sáng lạ lùng.

Ông lão chèo thuyền gọi vọng:

-  Cô giáo… à quên, thầy giáo có sang sông không?

Tôi bước xuống thuyền. Và từ hôm đó, tôi quen cả gia đình họ.

Nhà ông bà thuyền chài không có nổi một tấc đất trên bờ. Cả đời họ sống trên con thuyền cũ rộng bằng gian nhà nhỏ. Hai cô con gái đều đẹp. Xoan - hai mươi hai tuổi, dịu dàng, ít nói. Xuân - hai mươi, nhanh nhảu, hay cười. Người vùng sông nước bảo hai chị em như hai bông lau mọc cạnh nhau: một bông trắng trầm, một bông trắng bay.

Tôi yêu Xoan lúc nào không biết.

Có lẽ là từ buổi cô lặng lẽ vá áo cho tôi dưới ánh đèn dầu. Hoặc từ hôm cô đứng giữa mưa gọi tôi vào ăn bát canh cá nóng. Cũng có thể từ ánh mắt buồn của cô mỗi khi nhìn dòng sông mùa lũ.

Nhưng rồi tai họa đến.

Một trận dịch dữ quét qua vùng ven sông. Ông bà thuyền chài lần lượt đổ bệnh rồi mất chỉ trong hơn tháng.

Đêm chôn cất xong, hai chị em ngồi ôm nhau ở mũi thuyền. Xoan không khóc. Xuân khóc đến lịm người. Tôi ngồi bên mà thấy lòng mình như bị nước sông nhấn chìm.

Từ đó, tôi trở thành chỗ dựa duy nhất của họ.

Ban ngày tôi dạy học. Chiều về lại chèo thuyền, vá lưới, đi mua gạo. Những năm đầu sau chiến tranh, cái gì cũng thiếu. Nhà trường thương tình cho tôi ứng ít tem phiếu. Chính quyền xã hứa sẽ tìm cách đưa hai chị em lên bờ, nhưng hết tháng này sang tháng khác vẫn chưa có đất dựng nổi căn chòi.

Thế là ba người cứ lênh đênh trên chiếc thuyền ấy.

Những đêm đầu còn dễ chịu. Nhưng rồi mùa mưa tới.

Mưa sông khác mưa đồng. Nó dai dẳng, lạnh và tối đến mức tưởng như cả thế gian chỉ còn tiếng nước.

Trên khoang thuyền chật hẹp, chúng tôi nằm cách nhau chỉ vài gang tay. Mỗi khi gió lớn, Xuân lại sợ hãi ôm lấy tay tôi. Có đêm sét đánh sát mặt nước, cả hai chị em cùng giật mình lao vào lòng tôi như trẻ con.

Tôi thương họ thật lòng.

Nhưng chính vì thương mà càng khổ.

Một đêm mưa lớn, đèn dầu tắt phụt. Tôi choàng dậy vì nghe tiếng nấc. Nghĩ là Xoan, tôi đưa tay kéo người ấy vào lòng, khẽ hôn lên mái tóc để dỗ dành.

Người trong tay run bắn.

Rồi một giọng rất nhỏ vang lên:

- Em là Xuân…

Tôi chết lặng.

Ngoài kia, mưa như trút cả dòng sông xuống mái thuyền.

Từ đêm ấy, tôi không dám ngủ yên nữa.

Xuân bắt đầu tránh mặt tôi, nhưng càng tránh thì sự ngượng ngùng càng rõ. Còn Xoan… hình như cô hiểu hết. Nhiều khi tôi thấy cô nhìn em gái thật lâu rồi lặng lẽ quay đi.

Có lần nửa đêm, Xuân ngồi ngoài mũi thuyền khóc một mình. Tôi bước ra, cô nói trong nước mắt:

- Em biết anh thương chị Xoan. Nhưng em cũng thương anh mất rồi…

Tôi không trả lời được.

Con sông tối om. Tiếng nước vỗ mạn thuyền nghe như tiếng người thở dài.

Những ngày sau đó, tôi sống trong căng thẳng âm thầm. Tôi quý Xuân như em gái, nhưng trái tim tôi hướng về Xoan. Chỉ có điều, giữa cảnh lênh đênh cô quạnh ấy, tình cảm con người đôi khi mong manh như ngọn đèn trước gió.

Tôi hiểu nếu cứ tiếp tục như vậy, sẽ có ngày xảy ra điều không thể cứu vãn.

Rồi một buổi chiều, khi tan lớp, tôi quyết định sang huyện.

Tôi tìm gặp hiệu trưởng và chủ tịch xã lần nữa. Tôi nói thẳng:

Nếu không giúp hai cô ấy lên bờ sớm, rồi sẽ có chuyện khổ cả đời.

Có lẽ nhìn vẻ mặt tôi quá nghiêm trọng, họ mới thật sự để tâm.

Mấy tuần sau, xã đồng ý cấp cho hai chị em một khoảnh đất nhỏ cạnh trường học cũ - nơi từng là kho hợp tác bỏ hoang. Dân làng góp tre, người cho lá, người cho vài tấm ván.

Tôi cùng học trò dựng căn nhà nhỏ trong gần một tháng.

Ngày chuyển đồ lên bờ, Xuân đứng trên thuyền khóc như mưa. Còn Xoan chỉ lặng im nhìn dòng sông rất lâu.

Tối hôm ấy, lần đầu tiên sau nửa năm, chúng tôi ngủ trong ba gian riêng biệt.

Tôi tưởng mọi chuyện rồi sẽ nhẹ đi.

Nhưng không.

Đêm khuya, có tiếng gõ cửa rất khẽ.

Là Xuân.

Cô đứng ngoài hiên, mắt đỏ hoe.

- Em đến để nói với anh một chuyện… rồi từ mai em sẽ không làm anh khó xử nữa.

Tôi im lặng.

Xuân cúi đầu:

- Em xin theo người ta lên tỉnh học nghề may. Em ở đây mãi… em sợ mình không quên được.

Nói xong cô khóc.

Tôi chỉ biết đặt tay lên vai cô như một người anh.

Ba tháng sau, Xuân rời huyện thật.

Ngày tiễn em ở bến xe, Xoan ôm em rất lâu. Còn tôi chỉ nói:

- Khi nào nhớ nhà thì về.

Xuân cười mà nước mắt chảy đầy mặt:

- Em sẽ về… khi lòng em yên hơn.

Hai năm sau, tôi cưới Xoan.

Đám cưới nghèo nhưng vui. Học trò mang đến đầy sân những bó hoa dại ven sông.

Đêm tân hôn, nghe tiếng mưa đầu mùa rơi trên mái lá mới, Xoan tựa đầu vào vai tôi thì thầm:

- Em từng sợ mất anh…

Tôi nắm tay vợ, nhìn ra con sông đen ngoài cửa.

Con thuyền cũ vẫn neo ở bến nước.

Nhưng cuối cùng, đời người cũng phải tìm cách cập bờ.

 

 

 

 

Người đăng: Nhà báo, Ths. Chu Huy Phương