BỘ ĐỘI TÊN LỬA TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG KHÔNG
THÁNG 12 NĂM 1972
Bùi Thị Huệ
Hơn 50 năm đã trôi qua nhưng âm hưởng của chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” vẫn vang vọng mãi như một khúc tráng ca bất tử của thế kỷ XX. Một chiến thắng tiêu biểu cho khí phách anh hùng, tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, thể hiện đường lối chính trị, quân sự đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó là chiến thắng từ sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân tộc, với ý chí “Dám đánh, biết đánh và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” và trong chiến thắng vĩ đại đó không thể thiếu vắng sự đóng góp, hy sinh của Bộ đội Tên lửa với quyết tâm tiêu diệt thành công “Siêu pháo đài bay” B-52, làm thất bại âm mưu của Đế quốc Mỹ trên bàn đàm phán.
Năm 1972, trong tình thế thất bại trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, sau khi tái cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ lần thứ hai, ngày 14.12.1972, Ních-xơn quyết định mở chiến dịch tập kích đường không chiến lược bằng B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu quan trọng trên miền Bắc, mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II”, nhằm đánh hủy diệt, khủng bố, làm tê liệt ý chí quyết thắng của dân tộc ta, buộc ta phải khuất phục và chấp nhận những điều kiện mà chúng đưa ra ở Hội nghị Pa-ri.
Để thực hiện chiến dịch, Mỹ đã huy động một lực lượng vũ khí trang bị kỹ thuật khổng lồ gồm: 193/404 máy bay B-52 (gần 50% tổng số máy bay B-52 hiện có); 1077/3041 máy bay chiến thuật (hơn 1/3 tổng số máy bay chiến thuật) chưa kể hàng trăm máy bay trinh sát, máy bay gây nhiễu, máy bay tiếp dầu, máy bay chỉ huy liên lạc dẫn đường; 6/24 tàu sân bay (1/4 tổng số tàu sân bay của toàn nước Mỹ); 60 tàu chiến các loại của Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương… Trong đó, “siêu pháo đài bay” B-52 được coi là “con át chủ bài” bất khả chiến bại.
“Siêu pháo đài bay” B-52 là máy bay khổng lồ, có uy lực rất lớn với chiều cao 12m, dài thân 49m, sải cánh rộng 56m, nặng trên 200 tấn; có 8 động cơ phản lực, nó có thể mang hơn 100 quả bom với tổng trọng lượng xấp xỉ 30 tấn. B-52 có tầm bay cao tới 20km, ném bom ở độ cao 17km, hiệu quả nhất là từ 9 đến 11km; có thể bay xa nhiều nghìn km không phải tiếp dầu. Đi kèm B-52 là một lực lượng rất đông máy bay F-4 hộ tống, trước, sau và hai bên sườn, cách từ 18 đến 20km, tạo thành một hàng rào khó có thể chọc thủng, khiến B-52 thực sự là “pháo đài bay”. Và chỗ mạnh nhất ở đây chính là hệ thống gây nhiễu điện tử cực mạnh, tạo thành “áo giáp điện tử” vững chắc, che dấu toàn bộ lực lượng tiến công, biến mỗi chiếc B-52 thành một “máy bay tàng hình” theo đúng nghĩa trước mắt các chiến sĩ ta.
Tuy nhiên, điểm yếu của “Pháo đài bay B-52” là to xác, kềnh càng, phải bay bằng để ném bom, đường bay và tốc độ ổn định; độ cao ném bom có hiệu quả là trên dưới 10km, rơi đúng vào tầm bắn lý tưởng của SAM-2 và trong tầm hoạt động tốt của MiG-21. Mặt khác, nhiễu điện tử mà không quân Mỹ gây cho ta có cường độ rất mạnh, nhưng nó chỉ mạnh về phía trước, khi đang bay vào phía mục tiêu. Còn khi ở trạng thái bay chếch, bay ngang, bay ra, hoặc lúc vào gần thì phía hông, sườn, đằng đuôi và phía dưới bụng của nó lại yếu, gọi là những “góc chết”, những “khu mù”. Đồng thời, bay trong đêm tối, B-52 phải bật đèn báo hiệu trên lưng, hai bên đuôi và 2 đầu mút cánh, giúp ta tìm cách đánh bại chúng.
Về phía ta, lúc này Bộ đội Phòng không - Không quân của ta đang cùng một lúc phải đảm đương 3 nhiệm vụ rất nặng nề: Vừa tiếp tục tham gia tác chiến trong đội hình quân binh chủng hợp thành ở mặt trận phía Nam; vừa phải bảo vệ giao thông vận chuyển trên địa bàn Khu 4, tuyến cửa khẩu vượt Trường Sơn; đồng thời, luôn sẵn sàng đánh trả cuộc tập kích đường không của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng… nên lực lượng phòng không của ta buộc phải chia nhỏ ra để đáp ứng các yêu cầu chiến lược nói trên. Lực lượng tham gia bảo vệ Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng chỉ có 05 Trung đoàn tên lửa, 06 Trung đoàn pháo cao xạ, 04 Trung đoàn Không quân; trong đó, chỉ có 02 Trung đoàn MiG-21, 04 Trung đoàn Ra đa rải khắp miền Bắc. Ngoài ra, có 08 Trung đoàn cao xạ của Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc và lực lượng phòng không của dân quân tự vệ 9 tỉnh với 1.316 khẩu pháo cao xạ các loại…
Nhìn vào những số liệu trên có thể thấy lực lượng của Mỹ chiếm ưu thế áp đảo cả về số lượng và kỹ thuật hiện đại tối tân - đúng như Nich-Xơn đã khẳng định trong một cuốn sách của mình: “Trong lịch sử nhân loại chưa hề có một quốc gia nào chiếm ưu thế hơn hẳn về vũ khí như Hoa Kỳ so với Bắc Việt Nam…”.
Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra đối với Chiến dịch Phòng không cuối năm 1972 là bắn rơi nhiều máy bay B-52, bắt sống nhiều giặc lái, đập tan sự cố gắng cuối cùng của Mỹ. Thực hiện nhiệm vụ này, Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định Quân chủng Phòng không - Không quân là nòng cốt, sử dụng lực lượng tên lửa tập trung đánh B-52. Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã tổ chức nhiều hội nghị bàn cách đánh B-52; trong đó, Hội nghị tháng 10.1972 (hội nghị cuối cùng) khẳng định: “Chúng ta có đầy đủ tinh thần và trí tuệ để bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 là hoàn toàn có cơ sở”, tạo điều kiện tiên quyết cho Bộ đội Tên lửa vững vàng bước vào trận đánh với niềm tin chiến thắng.
Nắm chắc nhiệm vụ, Bộ Tư lệnh Chiến dịch nghiên cứu kỹ, xác định đúng hướng, đường bay, mục tiêu đánh phá của B-52. Trên cơ sở đó, thiết lập thế trận đánh B-52, lấy lực lượng tên lửa làm chủ công. Theo nguyên tắc bố trí đội hình chiến đấu là “hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung” vừa bảo đảm an toàn cho vũ khí, khí tài, vừa tập trung được hỏa lực đánh địch. Tuy nhiên, nếu bố trí đội hình như vậy, chúng ta không thể tập trung được hỏa lực ở mọi thời điểm, nhất là khi cơ động chuyển hóa thế trận. Vì thế, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã quyết định bố trí lại đội hình tên lửa “hỏa khí tập trung, hỏa lực tập trung” nhằm tăng mật độ hỏa lực chồng, nâng cao hiệu suất diệt B-52. Đây là quyết định sáng tạo, độc đáo và táo bạo, nhưng có đầy đủ cơ sở khoa học của Bộ đội Tên lửa Việt Nam. Theo đó, hai cụm tên lửa được hình thành: Cụm 1, bảo vệ Hà Nội, gồm 03 trung đoàn tên lửa (257, 261, 274) của Sư đoàn 361. Các tiểu đoàn tên lửa đều bố trí ở vòng trong, cách trung tâm 07 đến 10 km làm nhiệm vụ chốt trực tiếp đánh địch bảo vệ mục tiêu. Cụm 2, bảo vệ Hải Phòng có 2 trung đoàn tên lửa (238, 285) của Sư đoàn 363. Lực lượng này còn sẵn sàng cơ động một số tiểu đoàn tên lửa (71, 72 của Trung đoàn 285) chi viện cho cụm bảo vệ Hà Nội. Với thế trận đó, trong suốt quá trình Chiến dịch, lực lượng tên lửa vòng trong thực hiện cơ động chiến thuật liên tục, nhưng không làm xáo trộn thế trận, bảo đảm giữ vững thế trận có hỏa lực chồng cao, nhiều tốp B-52 bị bốn đến năm tiểu đoàn tên lửa cùng đánh.
10 giờ 30 phút ngày 17.12.1972, ngay sau khi Tổng thống Mỹ Ních-Xơn ra lệnh mở cuộc tiến công bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc, Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ trực tiếp chỉ thị các đơn vị trong toàn Quân chủng: “Tình hình rất khẩn trương, các đơn vị cần chuẩn bị cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu, có kế hoạch tiếp tế đạn cho tên lửa, bảo đảm vũ khí trang bị sẵn sàng chiến đấu với hệ số kỹ thuật cao nhất; thông tin liên lạc phải thường xuyên thông suốt; tổ chức báo động kiểm tra các đơn vị”.
Trong Chiến dịch này, Mỹ sử dụng chủ yếu máy bay ném bom chiến lược B-52 đánh phá các mục tiêu, còn máy bay cường kích đánh phá bổ sung giữa các đợt và ban ngày; tiêm kích chế áp phòng không, chặn kích không quân ta bảo vệ các tốp B-52. Oa-sinh-tơn tin tưởng rằng, sử dụng “siêu pháo đài bay” B-52, con bài răn đe chiến lược đánh phá để gây sức ép chính trị đối với ta. Phân tích, đánh giá kỹ tình hình thực tế, Bộ Tư lệnh Chiến dịch xác định B-52 là đối tượng tác chiến chủ yếu của Chiến dịch, do đó quyết định tập trung lực lượng tên lửa nỗ lực đánh gục con “át chủ bài” của Mỹ. Đây là chỗ mạnh nhất, nhưng cũng là chỗ hiểm nhất của địch. Bởi lẽ, chúng cho rằng, với hệ thống nhiễu dày đặc, cường độ cao cả ở ngoài và trong đội hình, cùng với các lớp máy bay tiêm kích hộ tống, bảo vệ thì khí tài tên lửa của ta khó có thể phát hiện ra chúng và cuộc tập kích chủ yếu bằng máy bay B-52 sẽ chỉ như một cuộc “dạo chơi”. Nhưng những gì diễn ra trong 12 ngày đêm đã cho chúng câu trả lời chính xác.
Ngay trong đêm đầu tiên của chiến dịch 18.12, quân và dân ta đã bắn rơi 6 máy bay các loại trong đó có 3 máy bay B-52. Liên tiếp trong các ngày sau đó, nhiều máy bay B-52 và máy bay chiến thuật các loại bị tiêu diệt.
Trong Chiến dịch “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, ngoài việc phải đảm đương nhiều nhiệm vụ cùng một lúc, một trong những khó khăn của Bộ đội Tên lửa là việc khan hiếm đạn tên lửa SAM-2 để tiêu diệt “Pháo đài bay” B-52 của địch. Vào những ngày cao điểm của chiến dịch, nhiều tiểu đoàn tên lửa rơi vào tình trạng giữa chừng “trắng bệ”, không còn đạn phóng trong khi máy bay địch vẫn tiếp tục kéo vào Hà Nội ném bom. Trước tình hình khan hiếm đạn, chỉ huy các trung đoàn tên lửa liên tục nhắc nhở, yêu cầu các kíp chiến đấu “Khách đến còn nhiều, chú ý tiết kiệm gạo”. Bộ đội tên lửa phải chắt chiu, xác định thật chính xác mục tiêu mới nhấn nút nhả đạn từng phát một, nhưng hiệu suất chiến đấu vẫn rất hiệu quả. Điển hình là đêm 20 rạng sáng 21.12, nhiều tốp B-52 đang nối tiếp nhau bay vào không phận Hà Nội, lúc này trên bệ phóng của Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261 (Sư đoàn 361) chỉ còn hai quả đạn tên lửa nhưng với quyết tâm đánh “quả một” đã tiêu diệt 2 máy bay B-52. Đêm 19 và đêm 20.12.1972, Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257 (Sư đoàn 361) đã đánh 3 trận xuất sắc khi chỉ với 6 quả đạn tên lửa tiêu diệt 3 “Pháo đài bay” B-52 của Mỹ. Sau đó ít ngày, cũng bằng 2 quả tên lửa SAM-2, Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285 (Sư đoàn 363) quật ngã 1 chiếc máy bay B-52 rơi ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội (hồ Hữu Tiệp, làng hoa Ngọc Hà) khi chúng chưa kịp cắt bom gây tội ác. Điều đặc biệt là những quả đạn tên lửa SAM-2 ấy phần nhiều đã quá niên hạn sử dụng. Quân chủng Phòng không - Không quân đã nghiên cứu tìm cách tăng hạn, kéo dài tuổi thọ cho từng quả một bằng “quy trình lắp ráp ngược”. Tại các tiểu đoàn kỹ thuật của Trung đoàn 257, Trung đoàn 261, những quả đạn tên lửa sau khi được lắp ráp, nhanh chóng đưa lên xe chở về các đơn vị chiến đấu và lập tức được nạp vào bệ phóng, lao vào không trung tiêu diệt “Pháo đài bay” B-52.
Tổng kết sau 12 ngày đêm (từ 18.12 đến 29.12.1972), quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, gồm: 34 chiếc B-52; 47 máy bay chiến thuật các loại, máy bay trực thăng và máy bay trinh sát không người lái, bắt sống và tiêu diệt nhiều giặc lái. Trong đó, Bộ đội Phòng không, Không quân đã bắn rơi 32 máy bay B-52. Tỷ lệ tổn thất về máy bay của Mỹ (chỉ tính riêng B-52) đã lên tới 17,6% (34/193 chiếc), thực sự là sự tổn thất khủng khiếp (thông thường trong chiến tranh, ở những trận tập kích đường không quy mô lớn, tỷ lệ tổn thất về máy bay của phe tiến công tối đa khoảng 1-2%). Đi đôi với tổn thất về máy bay, phía Mỹ còn phải chịu tổn thất lớn về phi công. Chỉ trong 12 ngày đêm, Không quân Hoa Kỳ đã mất gần 100 phi công (bị tiêu diệt và bị bắt). Đây là những phi công kỳ cựu, có giờ bay cao, có phi công đạt hơn 6.000 giờ bay.
Trước thất bại thảm hại trong 12 ngày đêm đánh phá miền Bắc Việt Nam, 07 giờ 00 sáng 30.12.1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ Vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận trở lại Hội nghị Pa-ri .
Có thể nói, trong Chiến dịch Phòng không cuối năm 1972, nhờ có sự lãnh đạo, chỉ huy linh hoạt, nhạy bén của Bộ Tư lệnh chiến dịch, dù vũ khí, đạn dược thiếu thốn nhưng Bộ đội Tên lửa đã dũng cảm, mưu trí, bình tĩnh, tự tin vận dụng sáng tạo các biện pháp chiến đấu, hình thức chiến thuật, tập trung hỏa lực của nhiều tiểu đoàn tên lửa cùng tiêu diệt các tốp B-52, buộc các “Pháo đài bay” của Đế quốc Mỹ phải phơi xác, góp phần làm nên huyền thoại “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi đi vào lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta như một “Bạch Đằng”, “Chi Lăng”, “Hàm Tử”, “Đống Đa”…. trở thành biểu tượng của ý chí, trí tuệ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh và niềm tin vào chính nghĩa của nhân loại tiến bộ toàn cầu. Đồng thời cổ vũ, khích lệ lực lượng Phòng không - Không quân nói riêng, quân đội ta nói chung giữ vững truyền thống, vững bước đi lên, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.