Có một người lính không bao giờ trở về

 

                                                   Nguyễn Thảo

 

Tháng Bảy trở mình trong những cơn mưa rào nặng hạt. Mưa rơi xuống những hàng cây xanh mướt, xuống những cánh đồng đã qua bao mùa gặt, xuống những nghĩa trang liệt sĩ nơi hàng vạn ngôi mộ trắng lặng im giữa trời đất. Khói hương bảng lảng quyện vào gió, như lời nhắc nhở rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả những cuộc đời mãi mãi dừng lại ở tuổi thanh xuân.

Mỗi lần thắp nén nhang trong ngày 27 tháng 7, tôi lại nghĩ về ông nội mình - liệt sĩ Nguyễn Văn Chào. Tôi chưa từng được gọi một tiếng “ông”. Chưa từng được ngồi trong lòng ông nghe kể chuyện. Chưa từng được nắm bàn tay chai sần của người lính. Tất cả những gì tôi biết về ông đều được chắt chiu từ lời kể của bà và hình ảnh về ông trong tôi chỉ là một tấm ảnh đen trắng đã ngả màu thời gian. Người thanh niên trong bức ảnh ấy mãi mãi ở tuổi đôi mươi, còn thời gian thì lặng lẽ đi qua, để lại trên gương mặt những người ở lại biết bao dấu vết của đợi chờ và hy sinh.

Ông nhập ngũ năm 1968 khi mà cuộc chiến tranh đang đi vào giai đoạn ác liệt nhất và tròn một năm sau - năm 1969 ông đã hy sinh. Khi ấy, bố tôi - người con cả mới chín tuổi. Chú thứ hai mới sáu tuổi và cô út lên bốn. Ba đứa trẻ còn quá nhỏ để hiểu thế nào là chiến tranh là sự mất mát… Có lẽ ngày ấy, các con chỉ biết rằng từ hôm ấy sẽ không còn ai bế trên vai qua những con đường làng đầy bụi. Không còn người cha đội chiếc mũ bạc màu trở về sau những ngày xa nhà. Không còn tiếng cười rộn rã mỗi bữa cơm chiều. Mỗi khi các đứa trẻ hỏi về bố, người thì bào “đi công tác”, người thì bảo đi “đánh giặc”, sau nữa, người ta bảo bố đã “hy sinh”. Hai tiếng “hy sinh” ấy, phải rất nhiều năm sau những đứa trẻ ấy mới hiểu hết.

Nhưng có một người hiểu ngay từ giây phút ấy. Đó là bà tôi. Khi nghe tin báo tử bà đang làm ngoài đồng chết lặng, ngất luôn tại chỗ và những người xung quanh phải đưa bà tôi về. Người phụ nữ còn rất trẻ bỗng khoác lên mình vành khăn trắng. Chưa kịp khóc cạn nỗi đau mất chồng, bà đã phải đối diện với một cuộc chiến khác còn dài hơn cả chiến tranh, đó là cuộc chiến của cơm áo, của bố mẹ già, của ba đứa con thơ và của những tháng năm thiếu vắng bờ vai để nương tựa.

Nhiều người từng khuyên bà đi thêm bước nữa. Một người phụ nữ trẻ, nhan sắc còn đó, cuộc đời còn dài, ai cũng mong bà có một mái ấm mới. Nhưng bà lặng lẽ lắc đầu. Không phải vì bà không cần hạnh phúc. Mà bởi phía sau bà là cả một gánh nặng gia đình và còn là lời hứa thầm lặng với người đã khuất: sẽ chăm sóc bố mẹ già và nuôi các con khôn lớn, sẽ không để chúng phải lạc lối vì thiếu cha.

Thế là bà ở vậy.

Một quyết định chỉ nói bằng vài chữ, nhưng được thực hiện bằng cả cuộc đời.

Những năm sau chiến tranh là chuỗi ngày nhọc nhằn mà thế hệ hôm nay khó có thể hình dung trọn vẹn. Những mùa giáp hạt kéo dài. Những bữa cơm độn khoai, độn sắn. Những manh áo vá chằng vá đụp. Những đêm mưa gió chỉ sợ mái nhà dột xuống chỗ các con nằm. Ban ngày bà ra đồng. Đêm xuống, dưới ánh đèn dầu leo lét, bà vá áo, đan rổ, khâu lại từng đôi dép đã mòn quai. Đôi bàn tay người phụ nữ chai sần vì cuốc đất, gánh phân, cấy lúa. Bà chưa bao giờ kể công. Những người mẹ Việt Nam thời chiến dường như đều có một điểm giống nhau. Họ giấu nước mắt vào trong, giấu nỗi đau vào lòng, chỉ giữ lại nụ cười cho con và những người xung quanh để họ an lòng. Có lẽ vì thế mà chiến tranh đã kết thúc rất lâu, nhưng những người ở lại vẫn tiếp tục hy sinh theo một cách khác.

Nếu người lính ngoài mặt trận đánh đổi tuổi xuân bằng máu thịt, thì người vợ, người mẹ nơi hậu phương đánh đổi cả cuộc đời bằng sự chờ đợi và những giọt nước mắt, nỗi mất mát ấy đi suốt quãng đời còn lại. Nghĩ đến điều ấy, tôi luôn thấy phía sau mỗi tấm Bằng “Tổ quốc ghi công” còn có một tấm bằng vô hình dành cho những người mẹ, người vợ, người con đã lặng lẽ gìn giữ mái nhà để người lính có thể yên lòng nơi cõi vĩnh hằng.

Tôi biết rằng, gia đình tôi chỉ là một hạt cát nhỏ trong biển lớn của dân tộc. Đất nước này có biết bao người mẹ như bà tôi, có biết bao đứa trẻ lớn lên chỉ qua lời kể về cha, có biết bao người lính mãi mãi dừng lại ở tuổi hai mươi. Nhờ họ mà đất nước Việt Nam có mùa thống nhất. Nhờ họ mà thế hệ chúng tôi được lớn lên dưới bầu trời bình yên.

Thỉnh thoảng tôi tự hỏi, nếu ông không hy sinh năm ấy thì gia đình mình sẽ khác biết bao. Bố tôi sẽ có người cha dạy từng nét chữ, dắt từng bước đi. Chú tôi sẽ có người cha sửa chiếc xe đạp đầu tiên. Cô út sẽ còn nhớ khuôn mặt cha, chứ không phải chỉ nhớ qua một tấm ảnh đã phai màu. Rồi tôi lại tự trả lời: Lịch sử không có chữ “nếu”. Có hàng vạn, hàng triệu người đã lựa chọn tỉnh yêu Tổ quốc trước khi kịp nghĩ đến hạnh phúc của riêng mình. Vì thế mà hôm nay chúng ta mới được lựa chọn những ước mơ bình dị. Được học hành, được yêu thương, được sống cuộc đời tự do, hạnh phúc.

Ngày 27 tháng 7 không chỉ là ngày dâng một nén hương lên những người đã khuất. Đó còn là ngày để mỗi người tự nhắc mình phải sống tử tế hơn, trách nhiệm hơn với gia đình, với cộng đồng và với đất nước. Sự tri ân không chỉ nằm ở những vòng hoa hay những lời tưởng niệm, mà còn ở cách chúng ta gìn giữ hòa bình, xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp hơn để sự hy sinh của các thế hệ đi trước không bao giờ trở nên vô nghĩa.

Mỗi mùa tháng Bảy, nghĩa trang liệt sĩ xã tôi lại đông hơn. Những mái đầu bạc tìm về đồng đội. Những người bà mang theo con cháu đến thắp nén hương cho chồng, cho cha, cho ông. Những em nhỏ còn chưa hiểu hết chiến tranh cũng cúi đầu trước những hàng bia trắng. Gia đình tôi cũng đến nghĩa trang để thắp nén nhang cho những anh hùng đã nằm xuống nhưng không có phần mộ của ông tôi.

Ông tôi đang nằm lại một nơi nào đó và tôi tin ông cũng được người dân nơi đó thắp nén hương lên mộ vào mỗi mùa 27/7. Mong muốn của bà là được đưa ông trở về với quê hương, nhưng ước nguyện đó chưa thành hiện thực…

Chiều nay, tôi lại đứng trước bàn thờ ông nội. Khói hương vẫn bay lên chậm rãi. Bên cạnh di ảnh của ông là những bông huệ trắng mà bà đã dâng lên ông để tưởng nhớ về người chồng đã xa của mình. Người phụ nữ ấy đã đi gần trọn một thế kỷ cuộc đời, lưng đã còng, tóc đã bạc, nhưng đôi mắt vẫn sáng như ngày nào. Tôi bỗng nhận ra, trong lịch sử mỗi gia đình đều có những người hùng. Có người trở thành anh hùng trên chiến trường. Có người trở thành anh hùng giữa những gian bếp nghèo, giữa cánh đồng lộng gió, giữa những đêm dài âm thầm nuôi con khôn lớn.

Chiến tranh đã cướp đi người chồng của bà. Nhưng không thể cướp đi lòng son sắt, đức hy sinh và sức mạnh phi thường của một người mẹ Việt Nam. Để hôm nay, mỗi khi nhắc đến ông nội, tôi không chỉ tự hào vì ông là một liệt sĩ đã hiến dâng tuổi xuân cho Tổ quốc, mà còn tự hào vì gia đình mình đã có một người bà bình dị mà vĩ đại. Chính bà là người đã giữ cho ngọn lửa của gia đình không bao giờ tắt, để từ sự mất mát năm nào nở ra những mùa bình yên của hôm nay.

 

 

 

 

 

Người đăng: Nhà báo, Ths. Chu Huy Phương