Bùi Huệ
Ngày 7/5/1954, chiến thắng vang dội của quân và dân Việt Nam tại Điện Biên Phủ đã làm nên một cột mốc lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đập tan “tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ” - nơi được mệnh danh là “pháo đài bất khả xâm phạm”, biểu tượng đầy tự hào của quân viễn chính Pháp ở Đông Dương.
Tìm hiểu về chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng ta sẽ phát hiện ra những “điều kỳ diệu” thật đặc biệt mà các trận chiến khác không có được.
Xe đạp lên ngôi “Vua vận tải”
Để giải quyết được bài toán tiếp tế hậu cần cho một chiến dịch lớn và cách xa hậu phương 400 - 500km với địa hình rừng núi bao la hiểm trở, đường vận tải cơ giới hư hỏng và không có đường thủy, thời tiết khí hậu nắng mưa thất thường, phương thức vận chuyển thô sơ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ, quân và dân ta đã có những cách làm sáng tạo để khắc phục mọi khó khăn: Động viên nhân dân Tây Bắc ra sức tiết kiệm đóng góp tại chỗ, đẩy mạnh làm đường, sử dụng tối đa số ô tô vận tải hiện có, huy động tối đa các phương tiện vận chuyển thô sơ như xe ngựa, voi, xe thồ….Và trong tất cả các phương tiện vận chuyển, xe đạp thồ đã chứng minh được tính ưu việt của mình.
Xe đạp thồ trở thành loại phương tiện vận chuyển chính, cơ động, năng suất trong chiến dịch Điện Biên Phủ, được gọi với cái tên “Binh chủng xe đạp thồ” hoạt động trên suốt chiều dài gần 1.500km. Xe đạp thồ còn được ví như “vua vận tải” chiến trường, “binh đoàn nửa cơ giới” vì có nhiều ưu điểm vượt trội và có thể khắc phục được nhiều nhược điểm của các phương tiện vận chuyển khác. Loại phương tiện này linh hoạt, nhỏ gọn, cơ động hơn phương tiện có động cơ nên có thể di chuyển trên mọi địa hình đồi núi, sông suối, dù là khó khăn nhất cũng có thể vận chuyển được các vật tư cồng kềnh, chất lỏng (xăng, dầu), lại không cần nhiên liệu, dễ sửa chữa, dễ ngụy trang, có thể đi lẻ hoặc thành đoàn trong mọi điều kiện thời tiết. Việc vận chuyển bằng xe đạp có hiệu quả cao trên những cung đường mòn nhỏ hẹp khúc khuỷu. Không những vậy, xe đạp còn có lợi thế ít gây tiếng ồn. Trong quá trình hoạt động, những người vận chuyển có thể nghe thấy tiếng máy bay từ xa và kịp thời ẩn nấp.
Lúc đầu, mỗi xe đạp thồ chỉ chở được 80 - 100kg, sau trọng tải được tăng dần lên nhờ những sáng kiến cải tiến đơn giản mà hiệu quả của các dân công: Buộc tre vào ghi đông giữ thăng bằng, một thanh vào trục yên để điều khiển, gá thêm gỗ tăng độ cứng cho thân xe, lót vải trong săm xe tăng độ bền… những thao tác đầy sáng tạo đã biến một chiếc xe đạp thô thành một phương tiện vận tải chưa từng có trong lịch sử chiến tranh thế giới. Chiếc xe đạp đã “mọc” thêm những bộ phận “kỳ dị” ngoài thiết kế ban đầu để tăng thêm sức thồ của nó trên những đoạn đường mòn giữa núi rừng hiểm trở mà ô tô không đi được.
Đã có nhiều kỷ lục gắn liền với chiếc xe đạp thồ ấy. Đặc biệt là ông Ma Văn Thắng (dân công tỉnh Phú Thọ), chiếc xe đạp thồ do ông gia cố đã lập kỷ lục vận chuyển trong chiến dịch Điện Biên Phủ, có chuyến chở 325 kg hàng, gấp 13 lần một người gồng gánh. Với năng suất vận chuyển cao như vậy, 21.000 chiếc xe đạp thồ tưởng chừng thô sơ vô hại lại trở thành “vũ khí đặc biệt” góp phần vào thắng lợi của chiến dịch.
Đội quân xe đạp thồ xuất hiện ở Điện Biên Phủ là một điều kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử chiến tranh, không chỉ ở Việt Nam mà cả lịch sử chiến tranh thế giới. Những chiếc xe đạp thồ tuy giản dị nhưng lại là minh chứng sống động cho tinh thần và ý chí quyết tâm không có gì lay chuyển được của một dân tộc trên con đường giành lại độc lập tự do.
Siết chặt cứ điểm bằng giao thông hào
Trong quá trình đánh địch ở Điện Biên Phủ, chiến thuật “vây, lấn, tấn, diệt” đã ra đời. Theo đó, chiến thuật này được vận dụng để thực hiện phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, tức là bao vây, đánh dần từng bước, tiêu diệt từng bộ phận địch từ ngoại vi vào trung tâm. Việc quân ta áp dụng chiến thuật “vây, lấn, tấn, diệt”, triển khai làm giao thông hào trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã trở thành một trong những yếu tố bất ngờ đối với thực dân Pháp.
Chiến hào, đường hào là loại hình dùng để phòng hộ vật đứng yên, thường sử dụng để phòng ngự, chưa bao giờ được đưa vào trận chiến với mục đích để tấn công nhưng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bộ đội ta đã vận dụng theo một cách khác, sáng tạo biến chiến hào như một thứ vũ khí di chuyển để phục vụ tấn công.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội ta đào 2 loại chiến hào. Một là loại giao thông hào trục, dùng cho việc cơ động bộ binh, cơ động pháo binh, vận chuyển thương binh, hình thành một đường vòng rộng, vây quanh trận địa. Hai là loại giao thông hào tiếp cận của bộ binh, xuất phát từ vị trí trú quân của các đơn vị trong rừng đổ ra cánh đồng, cắt ngang giao thông hào trục, tiến vào những vị trí địch mà ta định tiêu diệt. Các đường giao thông hào cứ bao vây và siết chặt dần, tiếp cận để làm tiêu hao sinh lực của quân Pháp.
Bộ đội ta đã đào các giao thông hào có độ sâu 1,7m, không quá rộng để đảm bảo an toàn trước bom đạn địch và giữ bí mật cho bộ đội khi di chuyển. Đáy hào trục rộng 1,2m, đáy hào bộ binh rộng 0,6m. Về chiều dài, lúc đầu được ước tính trên bản đồ khoảng 100km nhưng trong suốt quá trình chiến dịch, bộ đội ta đã phải đào lên gấp đôi, hơn 200km trong điều kiện vô cùng gian khổ, hiểm nguy, liên tục trong khoảng từ 14 đến 18 giờ đồng hồ mỗi ngày, thời tiết thì không thuận lợi, mưa dầm, gió bấc, công sự lầy lội bùn nước. 56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, có thể thấy cuộc chiến đấu thầm lặng chỉ bằng cuốc, xẻng để tạo ra những giao thông hào ngày càng thắt chặt vào đồn thù vô cùng khó khăn gian khổ và ác liệt, hi sinh cả xương máu đã diễn ra không chỉ 1 ngày, 1 tuần mà kéo dài liên tục trong nhiều ngày.
Với quân Pháp, việc quân ta đào hào và vây lấn dần dần vào trung tâm đã làm cho việc tiếp tế, vận chuyển thương binh của quân Pháp gặp nhiều khó khăn, làm cho quân địch đói khát, bệnh tật, mất hết tinh thần chiến đấu và chỉ còn con đường đầu hàng hay là chết. Không chỉ những nhà quân sự của Việt Nam, cả tướng lĩnh, binh sĩ Pháp sau này cũng phải công nhận sự khéo léo và mưu trí của quân đội Việt Minh khi đưa nghệ thuật đào chiến hào vào thế trận tiến công. Chính hệ thống chiến hào đã góp phần hạn chế thấp nhất tổn thất của bộ đội Việt Nam trước hỏa lực của quân Pháp để quân ta có thể thực hiện hiệu quả phương châm “đánh chắc, tiến chắc”.
Dựa trên hệ thống trận địa chằng chịt, dọc ngang những chiến hào và giao thông hào, quân đội ta đã vận dụng rất thành công chiến thuật mới “bao vây và đánh lấn” đưa đến khoảnh khắc giành thắng lợi vào 17h30 phút ngày 07/5/1954 đánh dấu chiến thắng lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Sức mạnh của toàn dân, toàn quân từ hậu phương cho đến tiền tuyến đã tạo nên điều kì diệu trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.
Huyền thoại con đường kéo pháo
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, sự có mặt của lựu pháo 105 li và các loại pháo hạng nặng tham gia chiến đấu là một kì tích của quân đội Việt Nam. Quyết định đưa trọng pháo vào chiến dịch cũng là một quyết định táo bạo bởi đường lên Điện Biên Phủ gian nan, vận chuyển hậu cần đã khó thì đối với một vũ khí nặng hơn 2 tấn lại càng khó khăn hơn gấp nhiều lần. Vậy nhưng chỉ bằng sức người, bộ đội ta đã đưa những khẩu pháo vượt qua đường mòn, dốc núi hiểm trở vào trận địa.
Để đưa được pháo về phía Bắc chiếm lĩnh các điểm cao, tập trung hỏa lực tiêu diệt các mục tiêu của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bộ chỉ huy mặt trận quyết định mở một tuyến đường dài 15 km chạy từ cửa rừng Nà Nham qua đỉnh Pha Sông cao 1150m xuống bản Tấu, bản Nghiệu. Thời gian thông tuyến con đường lịch sử này được quy định là 1 ngày. Hơn 5000 cán bộ, chiến sĩ đã dải đều trên toàn tuyến đường. Chỉ trong vòng 20 giờ, tuyến đường kéo pháo được hình thành không phải nhờ phép lạ mà chính bằng quyết tâm và sự lao động phi thường của quân ta. Cả đoạn đường có trên chục dốc cao, có dốc tới 40 độ, bên đường là vực sâu. Đường làm đến đâu anh em vít cành cây, dựng dàn mướp trồng cây để ngụy trang đến đó. Trên đoạn đường ấy, bộ đội Việt Nam đã kéo những khẩu pháo nặng hơn 2 tấn hoàn toàn bằng sức người. Ngày 25/1/1954, 1/3 số pháo của ta đã được đưa vào vị trí chiến đấu ở các trận địa sát các cứ điểm địch. Vậy nhưng sau khi nghiên cứu, phân tích so sánh lực lượng giữa ta và địch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định thay đổi phương châm từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quân đội ta lại được lệnh kéo pháo ra.
Kéo pháo vào đã gian khổ nhưng kéo pháo ra còn quyết liệt hơn vì địch đã phát hiện được đường kéo pháo của ta, đại bác của chúng bắn xối xả cản đường. Hàng ngày, máy bay địch ném bom napan đốt rừng, thiêu trụi cây nhưng bộ đội ta vẫn dũng cảm vượt qua lưới lửa, quyết tâm đưa pháo ra. Các cỗ pháo được ngụy trang kín đáo, việc chỉ huy kéo pháo có kinh nghiệm hơn, nhưng dưới làn bom đạn địch, không đêm nào quân ta không có thương vong. Ánh sáng của đèn dù soi rõ nét mặt hao gầy nhưng đầy vẻ kiên quyết của chiến sĩ ta. Trăm người như một, không ai lo lắng đến tính mạng của mình mà chỉ có một quyết tâm phải giữ pháo: “Dốc núi cao cao nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi, vực sâu thăm thẳm vực nào sâu bằng chí căm thù”, những câu hát trong bài hát “Hò kéo pháo” của nhạc sĩ Hoàng Vân như đã khắc họa phần nào những khó khăn, gian khổ và hi sinh của quân đội ta khi kéo pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Và giờ đây, sau hơn 70 năm, con đường kéo pháo đã trở thành con đường huyền thoại, là bằng chứng lịch sử và là biểu tượng cho tinh thần chiến đấu bất khuất giành độc lập tự do cho Tổ quốc của bộ đội ta.
Tìm hiểu về những điều kì diệu đặc biệt làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, xem lại những thước phim tư liệu hiếm hoi được ghi lại trên chiến trường ác liệt năm xưa, chúng ta càng cảm nhận rõ sự phi thường và ý chí quyết chiến, quyết thắng “không gì là không thể” của cha ông ta, những con người mang trong mình tình yêu nước sục sôi cùng một ý chí sắt đá với niềm tin “kháng chiến nhất định thắng lợi”. Năm tháng sẽ qua đi nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ với những điều kì diệu đặc biệt sẽ mãi là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Tình yêu nước sục sôi của cha ông ta sẽ còn chảy mãi trong tâm thức các thế hệ hiện tại và tương lai, trở thành nguồn sức mạnh bất diệt để đưa nước ta bước đi vững chắc trong “Kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”.