HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VẪN LUÔN TƯƠI RÒNG…
( Đọc tiểu thuyết “Khắc tinh với Thần Chết” của nhà văn Lê Hoài Nam)
(Nhất Chi Mai)
“Khắc tinh với thần chết”, cuốn tiểu thuyết hơn ba trăm trang (NXB Văn học, 2023) của nhà văn Lê Hoài Nam ẩn chứa trong đó một hiện thực ngồn ngộn của chiến tranh.Tác phẩm mô tả những năm tháng chiến đấu chống Mỹ gian lao mà anh dũng của dân tộc ta trong khoảng thời gian chừng vài năm trước khi hiệp đinh Paris được ký kết (1973).
Nhà văn Lê Hoài Nam đã từng là người lính từng có mặt ở chiến trường, nơi không gian của cuốn tiểu thuyết. Hiện thực cuộc sống và chiến đấu qua những trang nhật ký của trung úy cựu chiến binh Phạm Hữu Thậm và nhật ký của chính tác giả là nguồn chất liệu tươi ròng để ông đưa vào mỗi trang viết.
Giờ đây, chiến tranh đã lùi xa hơn năm mươi năm, nhưng khi đọc những trang tiểu thuyết “Khắc tinh với thần chết”, mỗi chúng ta vẫn không khỏi xúc động và có thể hình dung được bộ mặt trần trụi và tàn khốc của nó! Với bề dày trải nghiệm và độ lùi về thời gian đủ cho nhà văn chiêm nghiệm để tìm ra một lối viết về một đề tài tưởng như đã cũ nhưng cách nhìn thấu hiểu và bút pháp hiện thực trần trụi đủ sức hấp dẫn bạn đọc hôm nay.
Bức tranh toàn diện và tươi mới về chiến tranh trong tiểu thuyết: “Khắc tinh với thần chết” được nhà văn Lê Hoài Nam miêu tả bằng những tình tiết hết sức chân thực, sống động, bất ngờ và đầy ám ảnh: Đại đội 2, tiểu đoàn 1, trung đoàn 38 chiến đấu ở một vùng đất khô cằn đến độ “bập lưỡi xẻng xuống đất còn bị tóe lửa” nhưng là nơi cửa ngõ của chiến trường miền Nam. Nơi đây, cuộc chiến đang diễn ra vô cùng khốc liệt!
Hình ảnh những người lính chiến hiện lên ở đây là những con người rất thật: rắn rỏi, đầy cá tính nhưng luôn tôn trọng kỉ luật, luôn có khát vọng và niềm tin vào ngày mai!
Phạm Hữu Thẩm, Vũ Triền Sông và Nguyễn Văn Đắc được biên chế trong cùng một tiểu đội. Cả ba anh chiến sỹ trẻ lần đầu ra trận đã nếm trải “mùi vị” của chiến tranh không khỏi có những phút hoang mang, sợ hãi. Sau hơn một tháng hành quân đầy gian khổ, lần đầu tiên nhìn thấy những tốp lính Mỹ mặc rằn ri, cao lớn, tay lăm lăm súng ống lừng lững đi tới, Thẩm đã “ tè” cả ra quần mà không hề hay biết. Còn Đắc thì “Hai hàm răng cắn vào ngón tay cái đến bật máu ra vì sợ” . Vũ Triền Sông thì “sợ bấn lên vội vã lia hết cả một băng đạn AK khiến cho mấy tên Mỹ đi đầu ngã gục”. Chưa kịp hoàn hồn để hưởng trọn sự sung sướng vì lần đầu diệt được Mỹ thì lập tức Sông đã bị đại đội trưởng Nguyễn Viết Mậu quát cho một trận vì tội vô kỷ luật. May mà đại đội trưởng dày dạn kinh nghiệm chiến trường, cho đơn vị rút nhanh, không xảy ra thương vong gì.
Và cũng lần đầu, mấy anh lính trẻ nhìn thấy xác một tên Mỹ mắc vào một bụi cây ven sông, đầu vỡ toác, ruột lòi ra ngoài thì tròn mắt kinh hãi. Họ buộc phải lôi cái xác đang thối rữa ấy chôn xuống hố bom mà mùi tanh tưởi hôi hám cứ ám ảnh họ mãi.
Cái bộ mặt tàn khốc của chiến tranh càng lúc càng lộ rõ theo bước chân của những người lính trẻ. “Mặt đất bỗng rung chuyển, ấy là khi từng đợt bom B52 rải thảm. Những tiếng bom nổ dây chuyền. Tiếng cây gẫy đổ răng rắc. Tiếng trâu bò rống lên… Trong thoáng chốc, sau đám khói lửa ngất trời, mười bốn người lính trẻ đã ngã xuống…”. Đau thương bao trùm trên gương mặt những người lính còn sống.
Ngòi bút của nhà văn Lê Hoài Nam như quặn đau khi viết về những hi sinh gian khổ tàn khốc mà chính ông cũng là người trong cuộc. Cuốn nhật ký chiến sĩ đã lặng lẽ ghi lại: “Đại đội 2 khi hành quân vào đây quân số là 75, hiện chỉ còn 32 người. Tiểu đoàn 11 thì cách đây 3 ngày họ đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng… và chấp nhận hy sinh cả tiểu đoàn”. Những con số biết nói thể hiện rõ tính chất ác liệt của cuộc chiến.
“Đơn vị hành quân xuống dốc. Cực khổ vô cùng. Thằng đi sau như đội vào mông thằng đi trước. Khi xuống dốc còn khổ hơn. Sẩy chân là lăn xuống vực sâu cầm chắc cái chết” ... “Binh trạm ở đây hết cả nước uống. Chúng mình tìm xuống suối. Con suối nhỏ cạn đến đáy. Thỉnh thoảng có một vũng nhỏ, cá chết nổi lều bều. Vẫn phải lấy về dùng hăng gô nấu lên uống. Phải nhắm mắt để uống vì mùi rất hôi. Nhưng khổ nhất và khủng khiếp nhất là đói”…“Đói và đói. Đúng là đói vàng mắt. Đói mờ mắt… đói cồn cào...Ngôn ngữ những ngày này chỉ xoay quanh chữ “đói”…
Lần đầu tiên các chiến sĩ được “thưởng thức” những món ăn lạ “Thịt khỉ kho lá lốt” gây nhưng vẫn ngon với những cái bụng lép kẹp. Món cá chết bom ăn thì ngon đã đành, nhưng món cá bắt được từ con suối có nhiều xác chết hôi hám mang về nấu với rau rừng ăn vẫn thấy “không vấn đề gì”! Đói, hết lương thực, những người lính phải tự vào rừng kiếm các lọai rau: rau rừng, củ mài, sắn, củ móng ngựa, lá tai voi, dương sỉ, quả trám, dọc mùng…vẫn nuốt trôi với những cái bụng sôi lên vì đói…
Có những trang hiện thực “cười rơi nước mắt” khi có hôm họ “vớ” được “rọc mùng” hăm hở nấu nướng để rồi sau đó là… ngứa, ngứa đến mức phải “thò tay móc họng” bởi đó không phải là dọc mùng mà là dọc của cây ráy. Nếu hôm nào đó bắt được cóc, ếch, rắn, chão chàng… thì lính ta coi bữa ấy là “đại tiệc” là “cao lương mỹ vị” của đời lính. Lại có những loài chim như quạ, kền kền, sách đỏ không cấm săn bắt nhưng phong tục dân gian thì coi chúng là những loài vật ghê tởm vì chúng ăn xác người. Thế mà anh em trong đại đội phải nhiều lần bắn chúng mang về làm bữa. Hôi hám, kinh tởm nhưng họ vẫn phải ăn bởi “kinh tởm còn hơn là chết đói”. “Thịt quạ hôi thật nhưng còn dễ nuốt. Đến cái món kền kền thì vừa tanh khẳm, vừa gây, có người chỉ ngửi hơi đã “nôn thốc nôn tháo”. Nhưng cái dạ dày thì vẫn réo gọi nên nôn ra rồi lại cố nuốt vào. Có anh vừa bịt mũi vừa nhai nuốt”.
Khốc liệt, đói khát, nhưng với những người lính trẻ vẫn không thiếu những giây phút lãng mạn. Xen vào giữa những trận chiến ác liệt, anh chiến sỹ trẻ Phạm Hữu Thẩm vẫn tìm ra cách để ghi nhật ký mỗi ngày. Anh viết chân thực những gì đang diễn ra: “Chấy rận nhung nhúc như bọ. Chấy nhảy dù đánh đu xuống mặt. Rận từng bầy bò chật đường tà/ Mọi người chân sũng bủng da/ Sâu quảng sốt rét chân cà nhắc đi” (thơ của Phạm Hữu Thẩm). “Thương binh không có thuốc chữa, không đáng chết phải nằm chờ chết. Ruồi ve đẻ trứng vào vết thương, dòi bọ nhung nhúc…”. “Chết rồi thì chôn vội chôn vàng: sấp đầu, ngửa lưng, ở bờ sông, bãi bồi, xó rừng. Mà chết đủ các kiểu: chết vì đạn bắn thẳng, bắn xiên, vì Mỹ phục kích, vì biệt kích thám báo thủ tiêu.Thậm chí nhiều trận chết không ai chôn…”...“Một số tiểu đoàn đã nghĩ ra sáng kiến, những hôm không phải đi đánh trận họ tổ chức đào huyệt mộ nằm song song nhau ở gần nơi trú quân. Phòng những trận quân ta hy sinh nhiều họ chỉ việc liệm thi hài vào tăng võng cáng về chôn mà không phải đào nữa”
Dọc đường hành quân, trong gian lao cũng có biết bao điều thú vị! Ta vẫn nghe đâu đây có tiếng cười lạc quan “vui sống” của lính xen lẫn với những thanh âm ghê rợn của chiến tranh. Qua Đường 9 - Quảng Trị , khe Ve, Lùm Bùm “ vắt có cả trên núi cao, bật tanh tách quái quỷ”; “Hành quân tới bản Keng ( Lào) cảm nhận cái nắng Trường Sơn Đông, cái mưa Trường Sơn Tây khi qua A Lưới, A Sầu, A Gió”…“Qua sông Vàng Vòng, bản A Chóc, bản Tà Xa cảm nhận cái khô rang của thời tiết”, “Trên đường đi gặp những chùm sim chín ngả màu tím ngắt thì hái ăn ngồm ngoàm… bắt gặp những con bô rô, tắc kè, nhện vằn, nhái… Có con lấy tay vồ được, có con lấy gậy đập chết.Vơ cỏ khô châm lửa nướng ăn. Cái vị ngọt ngọt, chua chua của những thứ quả lẫn với vị bùi bùi, ngầy ngậy của những con vật, nuốt vào đến đâu cảm nhận sức vóc hồi sinh đến đấy”.
Hành quân qua trập trùng suối sâu, dốc cao, bàn chân người lính dạn dày sương gió làm nên chất thơ dạt dào trong tác phẩm giữa cảnh chiến tranh ác liệt.
Những trang viết về hiện thực cuộc chiến cam go ác liệt, ngòi bút của tác giả thấu cảm được những suy nghĩ, hành động của người lính khi đối mặt với kẻ thù: “Điểm cao 800, cửa Danh Sơn Hiệp, máy bay trực thăng bắn những dòng đại liên kéo thành hình tia lửa đỏ rực xuống mặt đất. Máy bay C130 thả đèn dù, pháo sáng. Phạm Hữu Thẩm và Vũ Triền Sông gác dưới giao thông hào. Mỹ nhảy dù bắn đại liên, trung liên, tiểu liên AR15, đạn M79 như mưa về nơi trú quân của ta. Chúng la ó nhặng xị xì là xì lồ. Sông quay về báo cáo trung đôi. Còn lại một mình Thẩm. Bọn giặc lố nhố phía vạt rừng trước mặt. Chúng rất đông. Lính Mỹ cao to, lông lá dữ dằn, trang bị đầy mình vũ khí đang đạp cây, vạch lá đi lên. Nòng súng của Thẩm bám lấy bụng tên đi đầu. Ngón tay điểm xạ cò súng. Cứ sau một điểm xạ là một tên đổ xuống. Thẩm quờ tay xuống thắt lưng ném ba quả lựu đạn… Tụi Mỹ khựng lại. Rồi sau đó bọn chúng phản công bằng súng máy các loại và 12 trực thăng bắn như vãi đạn vào trận địa. Bỗng súng Thẩm hết đạn. Bụng bảo dạ: Phen này mình sẽ bị bắt chăng? Thẩm nắp lưỡi lê vào đầu súng nghĩ: Nếu phải chết mình sẽ liều chết với chúng nó, mạng đổi mạng. Hai chiếc Utiti lượn lờ bên trên nhòm ngó. Một chiếc tàu già bay đến, động cơ ầm ầm ngay trên đầu.. Thẩm nói thầm: “ Chúng mày nhìn thấy bố chúng mày ngồi núp ở đây rồi chăng? Thì cứ hạ xuống mà bắt! Bố chúng mày sẽ ít nhất hạ thủ được một vài thằng rồi mới chịu chết...”
Trận đó Thẩm diệt được khoảng 20 tên…
Và còn rất nhiều trận đánh anh dũng quả cảm như thế diễn ra nơi chiến trường ác liệt này. Có khi cận kề cái chết, Sông và Thẩm tâm sự: Sông bảo “đã có lúc nghĩ trận nào cũng khốc liệt như thế này thì chúng mình khó mà trở về được”. Thẩm nói: “ Chúng mình trước khi lên đường đi B đã viết “quyết tâm thư” rồi mà. Chúng mình đã dấn thân vào nơi khốc liệt nhất của cuộc chiến này là tự thấy không hổ thẹn với bản thân rồi. Còn những chuyện khác không coi là quan trọng”
Nghĩ vậy nên các anh luôn “gồng mình” vượt qua tất cả…
Vẫn biết chiến tranh là “bất bình thường”, con người ta có thể vượt qua được rất nhiều khó khăn, gian khổ nhưng đôi khi khó mà vượt qua được chính bản thân mình. Nhất là khi giữa chiến trường “Đói đến mức sắp tắt thở thì bản năng sống trỗi dậy. Tránh được những việc xằng bậy là không hề dễ. Có những tình huống “ dở khóc, dở cười”; có khi đau thấu tận tâm can…
Nguyễn Văn Đắc, người cùng trung đội với Thẩm và Sông. Ba chiến sĩ rất thân nhau, khi đi chiến đấu thì luôn đồng cam cộng khổ. Đắc đã từng gan góc chịu khổ, bị thương mà còn phải nằm phơi nắng bất động cho khỏi bị lộ để trông một đồng chí bị thương nặng suốt một ngày trời chờ đồng đội đến mức lả đi “chết lâm sàng” mà không hề kêu ca, trách móc ai. Ấy vậy mà, không ai ngờ được, đến một lúc, Đắc chọn con đường chiêu hồi. Tiếng Đắc gọi loa chiêu hồi phát ra từ “ Con đầm già” lượn lờ trên đầu các chiến sĩ ta nghe thật không sao chịu nổi. “Thẩm và Sông nhìn nhau mặt buồn rười rượi”. Để rồi sau đó chính họ đau đớn nhưng kiên quyết theo lệnh chỉ huy giương đại liên lên nhằm “ Đầm già”: “Đòm…đòm…” hóa kiếp cho một tên phản động! Điều nhân nghĩa cuối cùng các anh dành cho Đắc với tư cách là một “con người” là: “chôn phần xương thịt còn lại của Đắc” để anh ta “mồ yên mả đẹp”.
Ở vào thế không cân sức về lực lượng giữa ta và địch, cho dù chúng ta dùng nghệ thuật chiến tranh nhân dân mưu trí, sáng tạo nhưng cũng không thể tránh khỏi sự hi sinh mất mát. “Tiểu đoàn 11 bị một lữ đoàn Mỹ, một tiểu đoàn Ngụy bao vây. Họ đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Hết đạn, họ dùng lưỡi lê, báng súng, xẻng… đánh giáp lá cà và chấp nhận hi sinh cả tiểu đoàn…”. “ Đại đội 12 chỉ còn 32 tay súng vẫn chiến đấu, vẫn “ bám thắt lưng địch mà đánh”, “ Đi tìm địch mà diệt” bởi mỗi người lính hơn ai hết đều thấu hiểu cái giá phải trả nếu chỉ một phút lơi lỏng, nhụt trí, lùi bước. “Chẳng nhẽ chúng ta nhường vùng đất này cho quân xâm lược, để chúng muốn lùa nhân dân vào một chỗ rồi muốn bắn ai thì bắn, giết ai thì giết hay sao! Chẳng lẽ để chúng dùng mảnh đất này làm bàn đạp tấn công ra miền Bắc một cách dễ dàng hay sao? Không, chúng ta không cho chúng làm điều đó!” Mỗi lời của chính trị viên Hoàng Như Quang như thấu trong từng trái tim và khối óc của từng chiến sỹ. Để rồi, họ đều cùng một ý chí quyết tâm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng!
Tân chính trị viên đại đội Vũ Triền Sông, từ một anh lính trẻ buổi đầu “sợ bấn lên” khi lần đầu nhìn thấy lính Mỹ, “vội vã lia hết cả một băng đạn AK khiến cho mấy tên Mỹ đi đầu ngã gục”, suýt nữa bị kỉ luật, qua rèn luyện nơi chiến trường ác liệt anh đã trở thành “tay súng cự phách, bắn rơi hàng chục máy bay Mỹ”. Anh đã can đảm đội nắp hầm xông lên chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để hai đồng đội phá vây chạy thoát.
Đó là người lính chiến mệnh danh: “ Khắc tinh với Thần chết” Phạm Hữu Thẩm. Anh là đội trưởng đội đặc nhiệm chuyên đi chiến đấu phối thuộc,“tay súng bắn tỉa thiện xạ, bắn đâu trúng đấy… ngay trận đầu ra quân đã diệt không dưới 20 lính Mỹ”, người đã bắn rơi tới 4 máy bay trực thăng, đã tham gia nhiều trận đánh nhưng vẫn sống trở về, dù đầy thương tích nhưng quyết không ra Bắc mà tự nguyện ở lại mặt trận cùng đồng đội và bà con đánh Mỹ…
Tình yêu nơi chiến trường khốc liệt nhưng lãng mạn, đằm sâu và mãnh liệt, bởi đó là những cảm xúc chân thật nhất xuất hiện giữa nơi sinh tử! Những mối tình tuyệt đẹp của hai đôi bạn trẻ: Sông và Kim Huệ; Thẩm và Hơ Niêl đều rất đáng ngưỡng mộ. Kim Huệ, cô văn công chiến trường là người yêu của Sông từ hồi phổ thông. Cô đã “bật khóc thút thít” khi gặp lại người yêu giữa chiến trường nơi một vạt rừng già đang thay lá. Và một bản tình ca tuyệt đẹp đã đến với họ: “Sông ôm lấy Kim Huệ, hôn lên khắp gương mặt nàng. Họ hôn nhau thật lâu, thật say đắm. Như một động thái tự nhiên, họ chìm vào trong nhau….Họ ngậm từng ngụm trên môi nhau. Họ uống từng giọt trong mắt nhau.Từ khuôn miệng họ phát ra những âm thanh thần diệu mà chỉ khi tình yêu thăng hoa mới có”. Kim Huệ đã khóc vì hạnh phúc. Còn Sông nói “ anh dù có tan xương nát thịt cũng không ân hận…” Họ đã thuộc về nhau, trao cho nhau tất cả những gì đẹp đẽ nhất của tuổi trẻ và cả những mơ ước, hi vọng đẹp đẽ về ngày mai…
Bản Bà Lừa: Thẩm, Cò và Thịnh gặp cô gái tên Hơ Niêl, bị thương ngồi dưới gốc cây trám trắng, một bên ống chân máu chảy ròng ròng, đùi trái cô bị toạc…
Hơ Niêl mới 20 tuổi mà chồng bị Mỹ bắn chết “buồn lắm, căm thù Mỹ lắm, chỉ muốn bắn chúng thật nhiều”. Cha của Hơ Niêl là ông già A Kôn và đồng bào Vân Kiều rất quí bộ đội. Hơ Niêl yêu Thẩm ngay từ lần gặp đầu tiên: “Bộ đội ưng mình à?” khi cô thấy anh đắm đuối nhìn mình. Rồi chính Thẩm cũng bất ngờ có cảm tình với cô gái Vân Kiều xinh đẹp này. Anh chân thật gật đầu nói: “Hơ Niêl rất đẹp, anh nói thật lòng mà”. Rồi Hơ Niêl cảm động nói với anh: “Nếu bộ đội có cảm tình với mình thì ở lại đây với mình, với Trường Sơn nhé!”.
Sau những tháng ngày chiến đấu gian khổ, cận kề cái chết, giờ đây ở bên một người con gái xinh đẹp trong sáng, lại ngỏ lời yêu thương, lòng Thẩm xốn xang bối rối bởi anh còn nhiệm vụ chiến đấu ở bên. Nhưng Hơ Niêl đã chủ động hôn anh, nụ hôn thật say đắm, mãnh liệt! Rồi họ trao cho nhau những ước hẹn ngày mai khi cùng nắm tay nhau quỳ xuống đất, mặt hướng về phía mặt trời chiếu rọi…
Nhưng rồi vì nhiệm vụ chiến đấu cấp bách, họ tạm chia tay nhau. “Hơ Niel đứng trên hòn đá cao, vai đeo khẩu AR15, gió thổi tóc bay trông như thiếu phụ bên hòn Vọng Phu. Tiếng núi vọng lại lời của anh bộ đội : “Anh sẽ về ề ề…”
Nhà văn đã diễn tả một cách chân thật những bản tình ca đẹp giữa khói lửa chiến tranh! Nhưng rồi, chiến tranh tàn khốc đã cướp đi “một nửa” trong họ. Sông và Kơ Niêl anh dũng hy sinh, còn lại Kim Huệ và Thẩm.
Sau những năm tháng chiến tranh ác liệt, Thẩm, “khắc tinh của thần Chết” được ra Bắc học đại học và anh đã gặp Kim Huệ. Dường như mỗi số phận ẩn chứa một phần lịch sử và như một định mệnh, một mối tình đẹp đẽ đã được nhen lên…
Nên có thể nói, “Khắc tinh với Thần chết” là bài ca bất diệt về sự sống và tình yêu bất tử!
Bằng cách kể chuyện tự nhiên, biểu đạt bằng ngôn ngữ giản dị, đời thường dễ hiểu, đôi chỗ diễn tả chân thật tới mức trần trụi, nhà văn đã đưa bạn đọc trở lại với hiện thực cuộc chiến tranh cách đây nửa thế kỉ. Khẳng định sức mạnh của dân tộc không chỉ là lòng yêu nước, ý chí quật cường mà còn có cội nguồn từ những tâm hồn đẹp, biết hi sinh! Vì thế, tác phẩm vừa có giá trị lịch sử - tư liệu, vừa mang giá trị nhân văn sâu sắc, mang đậm dấu ấn tinh thần thời đại. Tác phẩm sẽ sống mãi với thời gian bởi đọc tác phẩm viết về một vùng đất nhưng người đọc có thể hình dung cả cuộc chiến gian lao mà anh dũng của dân tộc, cho ta thêm trân quý những giây phút hòa bình, hạnh phúc của cuộc sống hiện tại và bước đầu tự tìm thấy lời giải đáp cho một câu hỏi mãi mãi vẫn không hết bí ẩn với nhân loại: vì sao Việt Nam thắng một cường quốc như nước Mỹ?