Hạt thóc sinh ra từ mẹ lúa
Nhỏ nhoi, sức sống diệu kỳ thay
Mùa đã vãn ngủ im trong bồ cót
Một ngày thành nhánh mạ sáng mưa bay
Mạ con cón ra đồng theo chân mẹ
Chia dảnh cùng bén rễ dưới bùn nâu
Buốt giá tháng Giêng, nắng nồng tháng Sáu
Gọi xanh non nơi ruộng cạn, đồng sâu
Lúa mượt đồng dậy thì con gái
Hương thơm bay mái tóc tuổi trăng rằm
Duyên lúa kết duyên cùng trời đất
Sinh sôi cho một hóa thành trăm
Ơn dòng sông phù sa mát ngọt
Ơn gió sương, ơn trời đất an lành
Lưng áo mẹ bạc mồ hồi mặn chát
Làm đậm thơm hạt ngọc con ăn
Và khi ấy đã vẹn tròn kiếp lúa
Một vòng đời, một kiếp nhân sinh
Mùa đã chín lại vàng trong bồ cót
Nằm đợi ngày thêm một cuộc tái sinh
Ôi! Đời lúa cũng lặng thầm như mẹ
Như đất đai, như hơi thở đất trời
Rút ruột mình, dâng cho đời tất cả
Ẩn mình trong vỏ trấu nhỏ nhoi thôi.
Nguyễn Thị Hương
Trong dòng chảy thi ca Việt Nam, mẹ và cây lúa là một trong nhưng thi tứ đặc biệt để các nhà thơ vin vào đó tìm nguồn cảm hứng sáng tác. Cây lúa từ lâu đã vượt ra ngoài ý nghĩa của một loài cây lương thực để trở thành biểu tượng của sự sống, của lao động và của đạo lý làm người. Cùng với cây tre, cây cau, giếng nước, mái đình, cây lúa lặng lẽ đi vào thơ ca như một hình ảnh thân thuộc, bền bỉ và giàu sức gợi. Viết về cây lúa, vì thế, cũng là viết về con người Việt Nam, đặc biệt là người mẹ nông dân - hiện thân của sự hi sinh thầm lặng và tình yêu thương vô điều kiện.
Bài thơ “Mẹ và cây lúa” của nhà thơ Nguyễn Thị Hương mang đến một giọng điệu nhẹ nhàng, sâu lắng. Không cầu kỳ trong cách diễn đạt, tác giả lựa chọn một góc nhìn rất đỗi gần gũi: soi chiếu đời lúa vào đời mẹ, để từ đó làm nổi bật vẻ đẹp của tình mẫu tử và vòng tuần hoàn bền bỉ của sự sống.
Hình ảnh hạt thóc mở đầu bài thơ được đặt trong mối quan hệ sinh thành đầy yêu thương: “Hạt thóc sinh ra từ mẹ lúa/Nhỏ nhoi, sức sống diệu kỳ thay…”. Hạt thóc bé nhỏ nhưng mang trong mình sức sống mãnh liệt, biết “ngủ im trong bồ cót” để chờ ngày nảy mầm. Từ cái nhìn nhân hóa nhẹ nhàng, hạt thóc tựa như một đứa trẻ ngoan, được mẹ lúa chở che, ấp ủ. Theo đó, không gian bồ cót quen thuộc nơi làng quê trở thành chiếc nôi êm ái, ấp iu bao mầm sống.
Sang khổ thơ thứ hai, bức tranh lao động nơi đồng ruộng hiện ra mộc mạc mà thấm thía:
“Mạ con cón ra đồng theo chân mẹ
Chia dảnh cùng bén rễ dưới bùn nâu
Buốt giá tháng Giêng, nắng nồng tháng Sáu
Gọi xanh non nơi ruộng cạn, đồng sâu”
Từ “con cón” gợi lên cả một miền ký ức tuổi thơ, hình ảnh những đứa trẻ lon ton theo mẹ ra đồng trong buổi sớm tinh mơ. Hình ảnh thân thương của làng quê đã được Nguyễn Thị Hương gợi lên, bằng giọng điệu rất đỗi giản dị đời thường. Phép nhân hóa này, dường như chị đã học từ trong dân gian, trong kí ức tuổi thơ ta xưa: “Vừa bằng thằng bé lên ba/Thắt lưng con cón chạy ra ngoài đồng” (Câu đố: Bó mạ). Cây mạ không còn thụ động mà đã nhập cuộc chủ động vào quy trình lao động, “chia dảnh”, cùng “bén rễ dưới bùn nâu”, cùng chịu đựng cái buốt giá của tháng Giêng, cái nắng nồng của tháng Sáu. Những câu thơ không ồn ào kể khổ, mà lặng lẽ để thiên nhiên khắc nghiệt tự nói lên nỗi nhọc nhằn của nông phu bao đời. Câu thơ gợi nhớ lại bài thơ “Hạt gạo làng ta” của Nhà thơ Trần Đăng Khoa: “…Hạt gạo làng ta/ Có bão tháng bảy/ Có mưa tháng ba/ Giọt mồ hôi sa/ Những trưa tháng Sáu/ Nước như ai nấu/ Chết cả cá cờ/ Cua ngoi lên bờ/ Mẹ em xuống cấy...”. Bão dập, nắng lửa, mưa dầm, thiên nhiên nhiệt đới khắc nghiệt đã đổ lên đầu người nông dân bao nhiêu nhọc nhằn để làm ra hạt gạo. Hai câu thơ, hai hình ảnh đối nghịch nhau gây một chấn động tình cảm trong lòng người đọc.
Giọng thơ trở nên mềm mại, giàu chất trữ tình, dẫn dắt ta về miền hạnh phúc: Sự sinh sôi- Phát triển- Mang no ấm cho Đời. “Lúa mượt đồng dậy thì con gái/ Hương thơm bay mái tóc tuổi trăng rằm.”. Một lần nữa, cây lúa được so sánh với thiếu nữ tuổi trăng rằm - độ tuổi đẹp nhất, căng tràn sức sống. Hương lúa bay trong gió như hương tóc người con gái, khiến cánh đồng trở thành một không gian vừa thực vừa mơ. Đó là khoảnh khắc lúa “kết duyên cùng trời đất”, chuẩn bị sinh sôi, nối dài sự sống, cho “một hóa thành trăm”. “Một hóa thành trăm” không chỉ là một bội số mà nó hàm chứa con số lớn hơn rất nhiều, như lời đức Phật dạy về giá trị huyền diệu của cách sống thiện lương.
Khổ thơ thứ tư cảm xúc được đẩy lên cao trào trong hình ảnh người mẹ: “Lưng áo mẹ bạc mồ hôi mặn chát/ Làm đậm thơm hạt ngọc con ăn.” Đây là câu thơ giàu sức lay động nhờ biện pháp hoán dụ và ẩn dụ. “Mồ hôi mặn chát” không chỉ là vị mặn của lao động mà còn là vị mặn của đời, của những lo toan, nhọc nhằn. Hạt gạo được gọi là “hạt ngọc” - cách gọi vừa truyền thống vừa thiêng liêng bởi trong đó kết tinh mồ hôi, công sức và cả đời hi sinh của mẹ. Tình mẫu tử ở đây không ồn ào mà lặng thầm, thấm sâu vào từng bữa cơm, từng nhịp sống. Bưng bát cơm lên ta lại nhớ giọt mồ hôi của mẹ rơi, lưng mẹ còng xuống qua bao mùa nắng gió, bao nỗi lo âu trằn trọc thức khuya dậy sớm của mẹ. Bát cơm vì thế trở thành nơi neo giữ ký ức, nơi con người học cách biết ơn. Hạt gạo không chỉ là hạt thực mà còn chứa trong nó hồn thiêng của đất và thân phận của mẹ - lam lũ, chịu khó, chịu khổ. Đó cũng là hình ảnh chung của người nông dân sống ở các vùng nông thôn của Việt Nam.
Khi mùa lúa khép lại, vòng đời lại bắt đầu:
“Và khi ấy đã vẹn tròn kiếp lúa
Một vòng đời, một kiếp nhân sinh
Mùa đã chín lại vàng trong bồ cót
Nằm đợi ngày thêm một cuộc tái sinh”
Đời lúa cũng như đời người, tuần hoàn, lặp lại, sinh - diệt - tái sinh. Lúa chín lại trở về bồ cót, nằm im chờ mùa mới, giống như người mẹ sau bao vất vả lại tiếp tục hi sinh cho con cháu, cho thế hệ mai sau. Điệp cấu trúc và nhịp thơ chậm tạo cảm giác lắng đọng, chiêm nghiệm về cuộc đời, nhân sinh.
Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng một nốt trầm sâu lắng:
“...Ôi! Đời lúa cũng lặng thầm như mẹ
Như đất đai, như hơi thở đất trời
Rút ruột mình, dâng cho đời tất cả
Ẩn mình trong vỏ trấu nhỏ nhoi thôi.”
Câu thơ nhẹ nhàng mà ám ảnh. Hình ảnh “rút ruột mình” là một ẩn dụ mạnh mẽ, gợi liên tưởng đến con tằm nhả tơ - biểu tượng của sự hi sinh tuyệt đối. Đọc lên mà ta thấy nghèn nghẹn nơi cổ họng, không nói thành lời. Người mẹ cũng như hạt lúa, hiến dâng trọn vẹn mà không đòi hỏi đền đáp, rồi “ẩn mình” trong sự giản dị, khiêm nhường và khi tách ra khỏi lớp trấu là hạt gạo trong ngần, ngọc thực của trời đất nuôi dương bao kiếp người.
Bài thơ “Mẹ và cây lúa” của Nguyễn Thị Hương còn mang nhiều đặc sắc về mặt nghệ thuật. Thành công nhất là sự cộng hưởng hài hòa giữa chất hiện thực và lãng mạn, giữa đời thường và triết lý nhân sinh sâu lắng. Với hệ thống nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, cùng ngôn ngữ mộc mạc mà giàu sức gợi, chị dẫn dắt người đọc qua nhiều lớp lang tương ứng chu kỳ sinh trưởng của cây lúa. Chị không dùng các từ so sánh: Là, như, như là… trong phép nhân hóa mà chỉ đặt các hình ảnh đó cạnh nhau để người đọc tự cảm, tự nhận biết. Nguyễn Thị Hương có những cách dùng từ ngữ chính xác mà uyển chuyển, đọc lên thấy thú vị vô cùng. Chẳng hạn, khi nhắc về mùa vụ vừa qua, chị dùng “Mùa đã vãn”- “Mùa đã vãn ngủ im trong bồ cót”. Sau một vòng đời lúa- mùa tới- Nguyễn Thị Hương vẫn dùng lại kết cấu câu đó nhưng chuẩn xác và tinh tế hơn: “Mùa đã chín lại vàng trong bồ cót”.
“Mẹ và cây lúa” không chỉ là tiếng ca của ruộng đồng, mà còn là bản hòa âm của lòng biết ơn, nhắc nhớ ta biết cúi đầu trước hạt thóc nhỏ bé bởi trong đó có một đời mẹ, có cả một nền văn minh lặng thầm mà bền bỉ nuôi dưỡng con người Việt Nam qua bao thế hệ. Nguyễn Thị Hương đã làm sáng lên hình tượng cây lúa cũng như hình tượng những người mẹ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Thị Thảo