Nhà báo, Thạc sĩ: Chu Huy Phương
Trong dòng chảy văn học đương đại, khi không ít tác phẩm sa vào cực đoan của cái tôi cá nhân hoặc những tìm tòi hình thức xa rời đời sống xã hội, thơ Văn Diên (Tường Văn) hiện lên như một mạch nguồn khác: điềm tĩnh, bền bỉ và có căn rễ. Thơ anh không phá vỡ truyền thống để gây chú ý, cũng không hoài cổ để né tránh hiện tại, mà lựa chọn con đường khó hơn: đứng trong truyền thống để chuyển hóa nó bằng ý thức lịch sử và tinh thần nhân văn tiến bộ.
Quê mẹ Hưng Yên trong thơ Văn Diên không chỉ là một địa danh, mà là một chủ thể văn hóa sống. Đó là miền đất phù sa, nơi sông Mẹ bồi đắp, nơi Phố Hiến từng là cửa ngọc giao thương, nơi nhãn ngọt, sen bùi, ca dao, khoa bảng và lễ hội kết tinh qua nhiều thế kỷ. Quê hương trong thơ anh không bị đóng khung trong hoài niệm “đã qua”, mà hiện diện trong trạng thái đang chuyển mình, mang nhịp điệu của hiện tại và hướng tới tương lai:
“Miền quê chung huyết mạch
Sông Mẹ dệt ước mơ
Phù sa vươn cánh sóng
Chung bước nhịp vươn nhanh.”
Nhìn từ hệ tư tưởng Mác-xít, đây chính là quan niệm duy vật lịch sử được thi ca hóa: lịch sử không phải ký ức tĩnh, mà là năng lượng tích lũy của lao động, đoàn kết và sáng tạo cộng đồng. Những hình ảnh như phù sa, cánh lúa, con đê, dòng sông trong thơ Văn Diên không mang tính trang trí, mà là biểu trưng của quá trình kiến tạo đời sống. Câu thơ “lúa gội dòng công nghệ” thể hiện một nhận thức hiện đại và nhân văn: phát triển không phủ định truyền thống, mà nâng truyền thống lên bằng khoa học, tri thức và tổ chức xã hội mới.
Trong Đất mẹ ân tình, hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện lên không như một biểu tượng trừu tượng, mà như nhịp nối của cộng đồng, của đoàn kết và ý chí vượt khó:
“Bác về như bắt nhịp chung kết đoàn…
Nhà nhà thủy lợi nuôi trồng
Xây đời sống mới khơi dòng ấm no.”
Đó là tinh thần nhân văn cách mạng: lãnh đạo gắn với đời sống nhân dân, vì dân mà tồn tại, vì dân mà dẫn đường. Thơ ở đây không hô khẩu hiệu, mà thấm đạo lý và trải nghiệm lịch sử cụ thể.
Ở bình diện trữ tình, Tình ca xứ nhãn cho thấy rõ một hồn thơ yêu quê sâu nặng nhưng không bi lụy. Cái tôi cá nhân luôn đặt trong mạch lớn của đất và người:
“Có phải phù sa làm lên huyền thoại
Hồn đất thiêng sáng hào kiệt mùa xuân.”
Con người, trong cách nhìn ấy, là kết tinh của tự nhiên, lịch sử và văn hóa một quan niệm gặp gỡ giữa nhân văn phương Đông và tư tưởng tiến bộ phương Tây. Thi sĩ không đứng ngoài cộng đồng, mà tìm thấy căn cước của mình trong chính mảnh đất đã nuôi dưỡng bao thế hệ.
Chỉ có người thực sự đắm say và gắn bó với quê hương đến tận cùng mới có thể mang trong mình một hồn thi sĩ như vậy. Đi trong kỷ nguyên mới, Hưng Yên Thái Bình hiện lên trong Giai điệu mới như một mạch phù sa liên hoàn của đồng bằng Bắc Bộ, nơi truyền thống và hiện đại hòa hợp, sẻ chia để tạo nên hợp lực phát triển:
“Hừng đông qua nhành lúa
Nhà cao chạm mây trôi
Hưng Yên giai điệu mới
Sáng kỷ nguyên hồng tươi.”
Đó là nhịp điệu của một vùng đất không ngủ quên trong vàng son, cũng không đánh mất mình trong đô thị hóa, mà biết chắt lọc tinh hoa quá khứ để bước tới tương lai giàu đẹp và nhân bản.
Từ mảnh đất xứ Nhãn ấy, những cánh thơ Hưng Yên của Văn Diên đã không dừng lại ở không gian địa phương, mà từng bước chắp bay ra bốn biển năm châu. Sáu bài thơ viết về Hưng Yên đã được một số tạp chí văn hóa của các quốc gia văn minh lựa chọn, chuyển dịch sang tiếng Anh và đăng tải. Qua thơ anh, Hưng Yên hiện lên với chiều sâu văn hiến, sức sống hiện đại và một ngôn ngữ nhân văn đủ phổ quát để bạn đọc quốc tế cảm nhận và đồng cảm. Thơ vì thế trở thành nhịp cầu văn hóa, nơi bản sắc địa phương gặp gỡ tinh thần chung của nhân loại trong kỷ nguyên hội nhập.
Có thể nói, thơ Văn Diên là một dạng thi ca kiến thiết: kiến thiết ý thức lịch sử, kiến thiết tình yêu quê hương không vị kỷ, và kiến thiết niềm tin vào con đường phát triển bền vững. Từ phù sa bồi đắp qua thời gian, thơ anh cất lên như một giai điệu mới, không ồn ào nhưng bền bỉ, để khẳng định rằng: quê hương, khi được yêu bằng trí tuệ và lương tâm, sẽ luôn đẹp, giàu và vươn khơi, như thiên nhiên ban tặng nhưng do con người làm nên.