KHÓI VẪN ẤM CHIỀU

 

Truyện ngắn của Tạ Thị Thanh Hải

     Tôi và mẹ về đến nhà khi chiều đang sẫm dần như vết mực loang. Cổng nhà vắng hoe vắng hoắt. Mà có lẽ từ khi tôi biết nhận thức thì thấy nhà mình chỉ xao động lên vào những thời điểm xảy ra biến cố tai ương. Còn sự vắng vẻ hiu quạnh này dường như đã ăn sâu vào tiềm thức tôi, thân thuộc đến xót xa. Tôi lật đật kéo chiếc then cổng hoen rỉ, chợt khựng lại khi nhìn thấy vồng khói màu lam đậm bay là là trên mái bếp. Hình như mẹ cũng cố nén một tiếng thở dài khe khẽ.

     Trong gian bếp nhỏ, bà nội đang lúi húi cời lửa. Đám rơm rạ mục ải lưu cữu từ vụ trước sậm sụi khó bén, mùi khói cay nồng khiến tôi thấy mắt mình nhằm nhặm cay. Tôi khom người bước vào bếp. Mẹ tôi lúng túng đặt cái túi vải xuống chiếc chõng che góc hiên.

- Bà ơi, sao bà vẫn đun bếp rơm làm gì cho nhọc? Mà cơm thì ám mùi khói khó ăn lắm.

- Không, lát nữa cái Thuận về sẽ cắm nồi cơm điện. Bà chỉ đun nước thôi. Ngày nào cũng phải nhen lửa cho ấm cái bếp. Cha bố cô, mới đi ăn cơm thành phố có mấy năm mà đã chê cơm quê ám khói…

- Đun nước uống cũng có ấm điện siêu tốc rồi mà bà…

- Vậy bà cho thêm nắm lá sả và mấy quả bồ kết để chị em mày gội đầu nhé. Cái mái tóc lâu ngày không được gội bồ kết, chắc là xác xơ rồi chứ gì…

     Bà nội ngẩng lên nhìn tôi và bỗng ngừng bặt khi thấy bóng mẹ thấp thoáng sau tấm liếp cửa. Mẹ cất lời chào khe khẽ. Sự trở về này của mẹ có khiến bà bất ngờ không? Suốt bao năm nay bà chưa một lần nhắc đến mẹ trước mặt chị em tôi. Là bà giận mẹ hay bà sợ chúng tôi thêm tổn thương, chẳng muốn khơi lại nỗi đau mà cả bà và chị em tôi cố ém chặt?

- Mẹ cái Hiếu đã về đấy à?

     Bà đáp lời mẹ bằng một câu hỏi. Rồi bà thở dài và chép miệng. Vẫn cái điệu bộ chép miệng nửa như hờn giận lại nửa như chất chứa nỗi niềm u uẩn cảm thông suốt bao năm nay. Tôi ngồi xuống ôm lấy vai bà, bờ vai gầy guộc ám khói, bỗng thấy lòng bồi hồi tưởng như lại sắp được nghe bà rỉ rả kể chuyện. Những câu chuyện tôi nghe đến thuộc lòng mà lần nào cũng vẫn thấy nôn nao. Ngày xưa, cái thời còn đói kém ấy, cứ đến cữ trưa cữ tối là cụ nội lại sai bà nhóm lửa để nấu nồi cơm độn ngô. Hết gạo thì luộc nồi sắn, nồi khoai; sắn khoai không có thì đun lấy ấm nước, nhen lửa cho khói bay lên để hàng xóm biết bếp nhà mình đỏ lửa mà nghĩ rằng vợ chồng con cái không bị đứt bữa. Lâu dần thành quen, cứ đến bữa là phải nhóm bếp lên. Mùa hanh khô, những sợi khói bay lơ lửng loãng tan trong nắng. Mùa giáp hạt giêng hai, khói cứ quẩn lại đặc quánh cay xè đắng nghét. Bà vẫn bảo: không có gì ăn thì “ăn khói” cũng thấy ấm lòng.

     Đã bao nhiêu lần tôi nghe cái từ “ăn khói” thốt ra từ khuôn miệng quánh vết trầu của bà mà vẫn thấy nghèn nghẹn. Giờ có nồi cơm điện, có bếp ga rồi nhưng bà vẫn muốn nhóm lửa như một thói quen, lại như một lời nhắc nhở về nếp nhà. Bà đâu biết những sợi xói xám nồng ấy đã ám vào tiềm thức tôi nỗi niềm nhưng nhức xót xa. Em Thuận học xong cấp ba nhất quyết không thi đại học mà xin đi làm công nhân giày da dưới thị trấn. Những đồ điện trong nhà có được từ những đồng lương tằn tiện của em. Còn tôi chỉ biết gom khoản trợ cấp ít ỏi của bà để có được mảnh bằng đại học, hai tư tuổi vẫn cứ lang bang nơi phố phường chật hẹp, chẳng mang được gì về cho bà ngoài những hoang hoải âu lo. Bấy lâu, tôi vẫn giấu bà việc đi tìm mẹ. Hoặc có khi bà biết nhưng cứ lơ đi.

***

 Bố tôi là cán bộ kiểm lâm, công tác ở miền rừng núi xa lắc xa lơ. Trong một trận lũ quét dữ dội, ông bà ngoại và cậu tôi bị thiệt mạng. Bố cùng đồng đội tìm thấy mẹ tôi thoi thóp mắc lại trong đám rễ cây rừng ven sông. Mẹ nhận lời yêu bố rồi về miền xuôi làm dâu như một mối lương duyên hay đó là sự trả ơn, chỉ mình mẹ mới hiểu được. Vì mẹ thương bà nội tôi bấy lâu cứ lủi thủi trong gian nhà hiu quạnh; hay vì mẹ sợ cuộc đời mình phải gắn với núi đá cheo leo, nơm nớp lo căn nhà sàn như chiếc lá mỏng manh sẽ tan tác trong mưa gió vũ vần?

Chưa bao giờ chị em tôi được lên cơ quan bố chơi cũng chưa từng được về thăm “quê ngoại”. Một lần tôi nhắc đến chuyện đó, bà nội thở dài: “Trên đó có còn ai nữa đâu…” Mẹ ngồi bó gối, ánh mắt vời vợi màu buồn. Mỗi năm bố về thăm nhà được vài lần, biếu bà nội xâu thuốc lá thơm nồng và quà cho mấy mẹ con tôi là mấy chiếc áo thổ cẩm hoa văn đan cài uốn lượn. Bố đi rồi, mẹ mang những tấm áo sặc sỡ ấy ra sân giếng, mân mê từng đường thêu nét chỉ, nhúng vào thau nước rồi mà tay cứ xuội đơ, gương mặt thẫn thờ, bâng khuâng. Tôi đoán mẹ lại nhớ quê. Có lần mẹ mặc chiếc áo ấy đi ra đồng, mấy người thợ cày bắt chuyện bằng những câu bông đùa vô duyên ác ý: “Biết đâu chú Tuấn phải lòng cô dân tộc nào trên đó, mang về cho cô những bộ quần áo sắc màu này để khi về nhà vẫn cảm thấy phảng phất bóng hình của người ta…” Những ánh mắt lia láu hút vào vồng ngực chật căng sau làn áo của mẹ. Những tràng cười khả ố bám đuổi theo mẹ. Mẹ lầm lụi về nhà, bậm bịch vùi những bộ quần áo hoa văn sặc sỡ ấy vào sâu trong đáy tủ, thi thoảng mới bỏ ra ngắm nghía. Bần thần. Ngẩn ngơ.

 Năm tôi học lớp tám thì nhà xảy ra biến cố. Tôi vẫn nhớ lắm cái buổi chiều cuối thu khô như rang ấy, khi tôi vừa kéo được con trâu từ đồng bãi trở về thì thấy sân nhà mình xôn xao nhốn nháo, mấy bác họ hàng làng xóm vẻ mặt lo lắng. Bà nội rền rĩ kêu trời, mẹ nước mắt ngắn nước mắt dài tất tưởi nhét mấy bộ áo quần nhàu nhĩ vào chiếc túi bạc phếch rồi lao ra khỏi nhà, chân đi như không bén đất. Tôi và em Thuận lóc nhóc chạy theo. Mẹ vừa lên tới dốc đê thì một chiếc xe khách lọc xọc trờ tới. Mẹ líu ríu leo lên xe. Chiếc xe lắc lư lao vào chiều chạng vạng, nhả lại đụn khói xám xịt. Vệt khói nhòe đục rờn rợn của chiếc xe ấy ghim vào kí ức tôi nỗi ám ảnh da diết khôn nguôi.

  Suốt những ngày sau đó, mắt bà nội lúc nào cũng đỏ hoe. Tôi hỏi thì bà bảo bị khói vẩn vào mắt. Mùa khô, khói nhẹ thênh, làm sao mà ám vào mắt bà được. Tôi dự cảm có chuyện gì đó mà không dám gặng hỏi bà. Gần một tháng sau mẹ và bố mới về nhà. Nhưng sự trở về ấy thật lạ. Căn nhà nhỏ chẳng xao động vui vẻ như những lần trước. Buổi chiều, tôi đi học về thì thấy bà đang lọm cọm dọn sách vở quần áo của chị em tôi sang gian buồng bên trái. Bà thì thào: “Bố mày ốm nặng lắm đấy, tối hai chị em sang ngủ cùng bà để bố còn nghỉ ngơi dưỡng bệnh.” Ngay cả khi có họ hàng đến thăm bố thì chúng tôi cũng không được vào cùng. Tôi đứng nép ở ngoài hiên, kiễng chân nhìn qua khe cửa sổ, thấy bố nằm như dán xuống giường, lọt thỏm trong bộ quần áo màu xanh nhạt rộng thùng thình, cả phần mặt và đầu băng kín mít. Bữa cơm, mẹ mang vào tận giường xúc cho bố ăn. Tiếng bố ú ớ, rồi tiếng thút thít của mẹ như cứa vào không gian lặng ngắt của gian nhà nhỏ. Chị em tôi cắm cúi ăn rồi ngồi vào bàn học, mở sách ra mà đầu óc cứ nghĩ vẩn vơ. Chẳng biết bố bị bệnh gì mà cả bà và mẹ lại cấm chị em tôi lại gần bố như thế, chúng tôi đâu có sợ lây bệnh. Thấy mẹ tất bật chợ búa rồi lại bận rộn với việc chăm bố, tôi muốn giúp mẹ nhưng mẹ nhất định không cho. Tôi cứ ngập chìm trong nỗi lo lắng miên man.

 Cả tuần sau bố cũng chưa ra khỏi căn buồng nhỏ ấy. Mẹ gọi người đến viết giấy cho thuê lại mấy sào ruộng, chỉ tập trung vào chạy chợ để dành thời gian chăm sóc bố. Những bữa cơm cứ đạm bạc dần. Một buổi sáng sớm, tôi thức dậy bởi tiếng khóc rấm rứt của mẹ. Tôi nằm im trong màn, hé mắt thấy bà nội thất thểu đi ra đi vào, bàn với mẹ bán khoảnh vườn phía sau nhà cho bác Hiên hàng xóm để lấy tiền trang trải. Mẹ ngồi tựa vào bậu cửa, đôi vai gầy so run rẩy.

 Mười ngày sau kể từ đợt đi viện lần thứ hai ấy thì bố tôi qua đời. Chị em tôi đã đủ lớn để thấm thía nỗi đau mồ côi. Một trận cháy rừng đã khiến bố bị bỏng nặng, mấy đợt điều trị cùng số tiền bán mảnh vườn hương hoả cũng chẳng cứu sống được bố. Thì ra những ngày bố nằm trong buồng, mẹ và bà không muốn chúng tôi lại gần bố vì sợ chúng tôi sẽ bị ám ảnh bởi gương mặt rúm ró ghê rợn của bố. Gần Tết năm ấy, có mấy chú đồng nghiệp của bố về nhà tôi, đặt lên ban thờ bố một xấp giấy tờ. Bà nội rưng rưng cảm ơn. Còn mẹ tôi chỉ ngồi thẫn thờ bên bàn nước, ánh mắt đờ dại vô hồn. Họ đi khuất, mẹ mới lao vào buồng khóc tức tưởi. Bà tôi ôm tấm bằng khen có triện dấu đỏ, màu đỏ sậm như màu máu, lặng đi. Mãi sau bà mới lập cập kéo chiếc ghế đẩu rồi run run rướn người treo tấm bằng lên cái cột gỗ xoan cạnh ban thờ.

Sau ngày giỗ đầu của bố, em Thuận đột nhiên bị viêm cơ tim cấp. Bà nội khóc mủi giải: “hoạ vô đơn chí”. Mẹ dốc hết số tiền dành dụm, vay mượn ngược xuôi mới đủ lo cho ca mổ của em. Chị em tôi lớn lên trong những ngặt nghèo tằn tiện, trong cả những lời ong tiếng ve về cái tướng “sát phu” của mẹ. Mà tôi thì thấy mẹ còn trẻ và đẹp lắm. Mấy lần tôi thấy bà nội nói nhỏ với mẹ, giọng khàn đặc: “Con trai mẹ xấu số bạc mệnh, mẹ chẳng có quyền giữ con ở lại…” Khuyên nhủ không được, bà sinh ra dằn hắt cay nghiệt với mẹ. Tôi hiểu đó là cái cớ để bà “đuổi” mẹ đi. Bà muốn mẹ đi làm lại cuộc đời, đừng giống như bà, cả một đời kiên gan chờ đợi mong được đón ông trở về dù chỉ là một nắm xương tàn mà cũng chẳng thoả tâm. Ông tôi đã nằm lại mảnh đất Tây Nguyên bạt ngàn gió trong những ngày tháng miền biên viễn ấy còn rát bỏng tiếng súng. Cuộc đời người đàn bà goá rạc gầy như những vạt khói hanh hao phơ phất.

***

     Mẹ tôi bỏ lên thành phố đã bảy năm nay. Chính xác là sáu năm, mười tháng, mười sáu ngày. Chẳng hiểu sao tôi lại có thể khắc nhớ chính xác số ngày tháng mẹ bỏ đi như thế, thuộc nằm lòng như đếm những lỗ rách trên đỉnh màn hàng đêm. Năm đó tôi đang học lớp mười một. Đêm cuối cùng mẹ ở nhà, lúc hai mẹ con ngồi giặt quần áo ở sân giếng, mẹ nói bâng quơ rằng cô Sa trên thành phố mới mở thêm một tiệm uốn tóc và cần người phụ việc. Cô Sa là em họ xa của bố tôi. Cô đi Đức gần chục năm, mang về một đứa con trai mắt xanh, da trắng hồng như con gái. Thi thoảng cô về quê, váy hoa phấp phới lạc lõng giữa chân chất quê mùa. Mẹ tôi thường nhìn cô với ánh mắt nửa ao ước nửa lại như ghen tị. Nhưng khi có ai đó nói bâng quơ xóc xiểm đến cô thì ngay lập tức mẹ lên tiếng bênh vực, những câu thanh minh vụng về như lọt thỏm giữa những lời châm chọc, giễu cợt ranh mãnh. “Mẹ biết cô Sa mang tiếng như vậy mà sao mẹ vẫn muốn theo cô đi?” Tôi hỏi nhỏ nhưng giọng dằn dỗi đanh lại. Mẹ không đáp, khom người đổ ào thau nước vừa giặt. Nước không chảy kịp xuống cống, kêu lên òng ọc, bắn trở lại sân giếng và bốc mùi khăn khẳn. Trong ánh điện đỏ quạch hắt ra từ hiên, tôi không thấy được ánh nhìn rười rượi đăm đắm của mẹ, chỉ nghe tiếng thở dài chìm lẫn trong tiếng xô chậu va vào nhau lách cách, bóng mẹ hắt lên bờ giậu cúc tần một hình thẫm tối, kì dị, đơn độc.

    Tôi tự hỏi mẹ có thể làm được việc gì ở tiệm tóc với bàn tay khô gầy xương xẩu ấy, đôi bàn tay thô kệch khác hẳn với gương mặt thanh tú mịn màng của mẹ. Trái tim đứa con gái mười bảy tuổi vẩn lên những nghi ngờ hờn lẫy. Đêm ấy tôi nằm nghe tiếng thở đều đều của mẹ và cứ mơ hồ hy vọng rằng ý định lên thành phố của mẹ chỉ là suy nghĩ manh nha của một người sống quá lâu trong sự tù túng, ngặt nghèo, hà khắc. Ở gian ngoài thi thoảng có tiếng bà nội rên rẩm, tiếng cười khóc vô thức trong những cơn mơ đứt quãng của em Thuận. Tôi trằn trọc miên man trong nỗi lo lắng bất an. Sáng hôm sau tôi tỉnh dậy bởi tiếng kêu ra rả của lũ ngỗng đực sau nhà. Cánh tủ gỗ khép hờ hững rỗng không, chẳng còn dấu tích gì của mẹ. Bà nội ngồi ngoài hiên, khuôn mặt u miên xám như màu khói.

      Vậy là mẹ bỏ đi thật. Bao nhiêu câu hỏi cứ cuộn xoáy trong tôi. Mẹ bỏ đi vì không chịu được sự trái tính hà khắc của bà nội hay vì những đợi chờ mòn mỏi nối tiếp những cô độc bẽ bàng đã hút rộc thanh xuân của mẹ? Hay mẹ chạy theo ảo ảnh về cuộc sống phồn hoa lấp lánh trong những lời hứa của cô Sa? Hay là mẹ chạy trốn khỏi những đêm trăng thanh có tiếng ngỗng ran ran ngoài bờ ao, bóng một người đàn ông thấp thoáng ẩn hiện sau những vạt sáng lờ nhờ yếu ớt? Những đêm ấy, nước mắt tôi lăn thấm gối khi nhìn bóng mẹ ngồi bất động cuối giường, mái tóc xoã kín mà chẳng thể giấu nổi tiếng thở dài cố nén run run cả khuôn ngực. Mẹ bỏ đi, để lại tai tiếng xì xèo râm ran khắp làng trên xóm dưới. Có người thêu dệt: ả bỏ lên thành phố để làm lại cuộc đời, đẹp như vậy tội gì mà chôn vùi đời mình trong gia cảnh ngặt nghèo này. Nhưng cũng có người thông cảm: giờ cả nhà trông vào một tay cô ấy, quanh quẩn với mấy sào ruộng bãi thì chết đói.

   Tôi chẳng muốn thanh minh cho sự ra đi ấy của mẹ. Sâu thẳm trong tôi là sự trống hoác, vụn vỡ, bất an. Mười tám tuổi, tôi khoác ba lô lên thành phố học đại học và nung nấu ý định đi tìm mẹ. Bà tiễn tôi ra bến sông, lần trong vạt áo đưa cho tôi cuộn tiền cũ nhàu bé bằng ngón tay cái. Bà bảo đó là số tiền bà nhận được từ bưu điện hơn một năm qua. Tôi bặm môi bước xuống phà. Phà rùng rùng rời bến. Những con sóng bạc trắng nhoè nhoẹt. Bạc như mái tóc của bà. Rối ren. Chênh vênh.

Thành phố đất chật người đông, ồn ào và xa lạ. Tôi đi khắp các tiệm cắt tóc gội đầu để tìm mẹ. Càng tìm càng bặt vô âm tín. Chỉ đến khi em Thuận đưa cho tôi một phong thư, lá thư duy nhất của mẹ mới gửi về, tôi lần theo dấu bưu điện ấy mà đi.

  Mẹ tôi không đi làm ở tiệm cắt tóc gội đầu của cô Sa như mẹ từng nói. Mẹ cố phũ phàng dứt áo ra đi để chúng tôi có cái cớ mà giận mà quên mẹ. Mẹ về với làng bản, với cánh rừng trơ trụi sau trận cháy đã cướp đi người chồng của mẹ. Cánh rừng ấy dần hồi sinh nhưng nỗi niềm nhớ thương của mẹ gửi lại ngôi nhà hiu quạnh với người mẹ già tiều tuỵ và hai đứa con gái côi cút thì cứ ngằm ngặp ứ đầy. Mẹ bảo nhiều lúc nhớ các con đến phát dại nhưng chẳng thể trở về. Mẹ sợ những lời trêu đùa khả ố của đám đàn ông và những ánh mắt xẹt ngang sắc lẻm của những người đàn bà trong làng. Mẹ không đủ dũng khí để ở lại, cũng không thể đưa chị em tôi đi theo. Mẹ lo nếu chúng tôi đòi theo mẹ thì sẽ phải gò lưng leo núi để tìm con chữ, bỏ lại bà nội với căn bếp um úm khói và những mùa rạ rơm xơ xác. Mẹ muốn chúng tôi ở lại bên bà như một sự nương nhờ, che chở. Tôi chợt nhớ về khoản tiền hàng tháng mà bà nhận được từ bưu điện xã, bà lần hồi trang trải nợ nần, dành dụm thuốc thang học hành cho chị em tôi. Cô bưu tá vẫn giấu tên người gửi, chỉ bảo với bà đó là khoản trợ cấp của cơ quan cũ của bố gửi về.

Lâm trường Nà Sản hoà lẫn với mênh mông xanh ngắt đại ngàn. Chiếc áo thổ cẩm của mẹ nổi bật giữa những vạt thanh thiên quỳ, sa nhân, khôi nhung mơn mởn. Những vạt cây thuốc ấy kiên trì bám vào đất, giữ cho những tán rừng bát ngát vươn xanh. Mọi hiểu lầm đã được hoá giải nhường chỗ cho niềm tin yêu nhen nhóm ươm mầm…

***

Bà nội nghiêng người thổi lửa. Ngọn lửa hồng rực, một vồng khói cuộn lên nhẹ thênh. Tôi nghe lòng mình chộn rộn khi bắt gặp những lấp lánh yêu thương ánh lên từ đôi mắt đen thẳm vời vợi của mẹ và cặp mắt đục mờ ngân ngấn của bà nội.

Ngoài sân, gió lạt xạt thổi bay đám lá khô, làm tan loãng những vạt khói xám nồng phơ phất.

 

 

 

Người đăng: Nhà báo, Ths. Chu Huy Phương