Người thao thức với cả hai vùng đất: Phố Hiến, Côn Sơn

Người thao thức với cả hai vùng đất: Phố Hiến, Côn Sơn

(Cảm nhận về tập bút ký “Khắc khoải suối Côn Sơn” của nhà văn Nguyễn Phúc Lai )

Thanh Mai

 

Dịp Tết nguyên đán Giáp Thìn, tôi được nhà văn Nguyễn Phúc Lai, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin kiêm Chủ tịch Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Hưng Yên gửi tặng tập bút ký còn thơm mùi giấy mực “Khắc khoải suối Côn Sơn”. Tôi đã dành nguyên ngày thứ bảy để đọc một mạch tập sách với 01 bài giới thiệu chung của Nhà xuất bản Hội Nhà văn và 19 bài ký của tác giả Nguyễn Phúc Lai, không gián đoạn, không mệt mỏi, thậm chí đầy hứng khởi, đầy cảm xúc!

Quả đúng như lời nhận định ngắn gọn mà tinh tường của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, đây là một tập ký của một nhà văn với “một lối viết cầu toàn, kỹ lưỡng, chuyên chở theo văn hóa, lịch sử và trĩu nặng tâm tình của một văn nhân sống trong khoảng tuổi thấu thị cuộc đời”. Men theo mỗi tác phẩm của ông, tôi như được mở rộng thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan của mình, với mỗi vùng đất, tình người Nguyễn Phúc Lai ghi chép, tái hiện.

Với mỗi chuyện đất, chuyện người, chuyện món ăn, chuyến đi…, qua ngòi bút nặng suy tư và hiểu biết về thế sự của tác giả, đều thành “cái cớ” thôi thúc ông viết, chia sẻ, công bố kịp thời những nhận xét, đánh giá, ý tưởng, trăn trở của mình với độc giả và người có trách nhiệm. Trong quá trình sáng tạo, Nguyễn Phúc Lai không hư cấu nhưng không đóng vai người ghi chép thụ động mà luôn chủ động, khéo léo lựa chọn, sắp xếp tình tiết, thêm thắt dữ kiện, huy động kiến thức dẫn dắt người đọc vào thế giới tác phẩm của mình. Ở mỗi góc độ và dụng ý khác nhau trong từng tác phẩm, ông lại có sự kết hợp linh hoạt các phương thức nghị luận, tự sự, trữ tình theo độ đậm nhạt khác nhau.

Dành nhiều thời gian sống và gắn bó với Hải Dương hơn, từ những ngày đầu công tác rồi khi nghỉ hưu, nên những trang viết về vùng đất này của Nguyễn Phúc Lai cũng nhiều hơn, 10/19 bài. Tất nhiên, với cách huy động tất cả vốn văn hóa từ địa lý, lịch sử, đến những tình cảm thân thương, tâm huyết, và cả lý tính để chọn lọc những gửi gắm thiết thực nhất vào từng trang viết, các bài ký về đất và người Hải Dương của Nguyễn Phúc Lai thực sự đã tác động mạnh mẽ vào tình cảm người đọc. Phải yêu tha thiết và hiểu đến chân tơ kẽ  tóc mỗi tên đất, tên sông, tên người, tên vật, tên đặc sản Hải Dương, nhà văn mới có thể khiến người ta tự hào đến thế về một tỉnh Hải Dương văn hiến, năng động trong thời kỳ hội nhập, phát triển, tự tin và tiềm năng, thế mạnh địa chính trị cửa ngõ của Thủ đô hướng ra biển, một thành phố soi bóng bên sông Sặt và Lục Đầu Giang; một vùng đất mà chỉ cần nhắc tới bánh đậu xanh rồng vàng Bảo Hiên là nhắc tới vàng son, mật mỡ, tới những người bám trụ, sống chết với nghề, làm giàu chân chính trên quê hương; rồi niềm tự hào, hãnh diện khi nhắc tới vùng đất bờ xôi ruộng mật Bình Giang và những con người năng động, dám nghĩ dám làm để chung tay xây dựng Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới trên quê hương; niềm tôn kính và cả đức tin tín ngưỡng về phúc trạch dồi dào cho khắp vùng đất Ninh Giang của Quan lớn Tuần Tranh cùng quyết tâm biến vùng đất “4 cái cuối” Ninh Giang – cuối tỉnh, cuối giao thông, cuối nguồn nước, cuối nguồn điện – đưa vùng đất “3 hụt” – hụt trạng, hụt ga xe lửa, hụt tỉnh lỵ, thành vùng đất đầy tiềm năng, cơ hội phát triển… Nhưng có lẽ đọng nhiều cảm xúc sâu lắng, bâng khuâng, ám ảnh, day dứt lòng người nhất chính là bút ký được tác giả chọn làm nhan đề chung của cả tập bút ký “Khắc khoải suối Côn Sơn”. Ngoài nguồn kiến thức kỳ khu tìm hiểu, tổng hợp về đại oán oan Lệ Chi Viên tru di tam tộc của ngôi sao ngời sáng Nguyễn Trãi, người được ban quốc tính “Lê Trãi” (họ vua). Cùng với những chuyện đầy nhân văn và kết cục có hậu về chuyện hậu nhân may mắn thoát đại nạn và tử tôn về nhận họ, như cách nói khiêm nhường của tác giả “tôi chỉ điểm xuyết đoạn kết có hậu câu chuyện lịch sử đầy bi thương để minh chứng thêm về sức sống mãnh liệt của dân tộc ta”,  Nguyễn Phúc Lai còn tài tình cài cắm những nỗi suy tư, khắc khoải của mình khi chứng kiến sự biến thiên, thay đổi sinh quyển ở vùng đất thiêng Côn Sơn – Kiếp Bạc, mà điểm rõ nhìn thấy nhất là sự can thiệp (dù vi tế hay thô bạo của con người) vào môi trường tự nhiên, là con suối cạn trơ đáy không còn “suối chảy rì rầm” như thủa nào Ức Trai tiên sinh ngâm vịnh, là bặt lặng tiếng muông thú vui đùa bầu bạn, để rồi đặt vào lòng người câu hỏi đầy ám ảnh về thẳm sâu thế thái nhân tình, về đạo ứng xử giữa người với người, người với thiên nhiên “Đời sống xã hội của con người với đời sống vạn vật ngoài thiên nhiên đều có sự vận động, luân chuyển theo luật nhân quả. Không chỉ khoa học biện chứng thời nay đã chứng minh, mà từ xa xưa nhà Phật đã cảnh báo”. Nhưng cũng thật nhân văn, khi khép lại bài ký, Nguyễn Phúc Lai mở ra cho người đọc một chân trời tốt đẹp, khi mà môi trường sống thân thiện, con người nhân ái, có tâm Phật thì sẽ tác động huyền diệu tới tất cả vô hình lẫn hữu hình, để huyền diệu sẽ trở lại với rừng suối Côn Sơn!

Với Hưng Yên, mảnh đất chôn nhau cắt rốn, cũng là nơi ông thực hiện chức việc cao nhất thời đương chức của mình, Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Hưng Yên, nhà văn cũng dành cho những trang viết không hề khiêm tốn, 6/19 tác phẩm. Vài trang ngắn ngủi khoe món ngon quê nhà “Đặc sản cá mòi sông Hồng nhìn từ ngã ba Tuần Vường” cũng kịp để ông tẩm bổ lưng vốn nhận thức cho người đọc về một địa danh đặc biệt “ngã ba Tuần Vường” – nơi giao thoa giữa sông và biển, cái bãi Ba Tỉnh “vì bãi nổi nằm trên địa phận và có mặt cư dân ba tỉnh Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình” cùng ý tưởng đầy lãng mạn hiện thực về dự án Văn hóa Du lịch hoặc thương mại tầm cỡ trên không gian văn hóa lịch sử đặc biệt của vùng Sơn Nam hạ xưa kia. Một bài ký ngắn tưởng niệm ngày giỗ đầu của nghệ sĩ nhiếp ảnh Hoàng Nẫm – người phóng viên chiến trường kỳ cựu, người lưu giữ nhiều nhất những tấm ảnh chân thực về Hưng Yên ngày đầu tái lập, cũng đủ để ông kịp nhắn gửi ngành chức năng và những người có tâm về sự cần thiết kiểm kê, chuyển kho tư liệu phim ảnh lưu trữ thủ công sang bảo quản, lưu trữ bằng công nghệ vi tính (kỹ thuật số) để làm vốn khai thác, sử dụng lâu dài nguồn tư liệu vô cùng quý giá nghệ sĩ nhiếp ảnh Hoàng Nẫm để lại.

Đọc bài ký “Tiết thanh minh đi tìm cụ mộ cụ Tán Thuật” sẽ khiến người đọc đồng tình sâu sắc với quyết định đúng đắn và công tâm của Ban Tổ chức, Ban Giám khảo cuộc thi ký của tạp chí Nhà văn khi trao giải Nhì (không có giải Nhất) cho tác giả Nguyễn Phúc Lai. Hiếm khi nào Nguyễn Phúc Lai dành sự công phu, tỉ mỉ và chi tiết cho mọi dữ kiện, mọi câu chuyện trong một bài ký như tác phẩm này. Đúng như nhận định của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, cuộc đi tìm mộ cụ Tán Thuật là một công vụ, một trách nhiệm của chức việc nhưng nếu không bằng tấm lòng đó thì đâu có đường trường gian khổ, lặn lội, kỳ công và quyết tâm thực hiện cho bằng được. Cái thú vị và những kiến thức mới cùng tâm tình người viết cài cắm, gửi gắm trong tác phẩm xin để dành cho người đọc như phần thưởng cho người xứng đáng. Chỉ riêng câu chuyện phát hiện ra địa danh núi Vạn Thọ Cương nơi đặt phần mộ anh hùng Nguyễn Thiện Thuật như khi ở Việt Nam tìm hiểu tài liệu được công bố đã khiến chuyến đi tưởng như công cốc, tiền hết, manh mối – chìa khóa của cuộc tìm kiếm cũng hết (vì hóa ra, người Trung Quốc vẫn gọi nơi chôn cất người chết là Vạn đại cương sơn, nghĩa là giang sơn vĩnh viễn, thế nên có thể nó đã mĩ từ đó qua dịch thuật và tam sao thất bản đã được hiểu và dịch là một địa danh, hay khi chôn cất để đảm bảo an toàn và bí mật phần mộ của  cụ mà người thân đã thông báo một địa danh chung chung như vậy?). Thế mà rồi câu chuyện cứ hấp dẫn người đọc, đi hết chuyện cuộc đời nhân vật này tới nhân vật khác, để đến một cái kết có hậu, tìm được mộ cụ Tán Thuật, bắt đầu từ cái tâm tri ân và tận lực tìm kiếm tin tức từ đoàn công tác, “quyết đưa cụ về nơi quê hương xứ sở đặng yên lòng những người đồng tộc, đồng xứ, đồng hương”,  đến cái tình của người Việt xa xứ khiến người ta không khỏi rưng rưng xúc động, cũng từ đó một niềm tự hào trỗi dậy, một niềm tin sâu rễ chắc cành về sức sống mãnh liệt của truyền thống văn hiến đoàn kết, tương thân tương ái, ăn quả nhớ người trồng cây được nhân lên qua câu chuyện cảm động về những người Việt như bà Tân, bà Mỹ, ông Huy “những người phiêu bạt, tha hương lại ít học. Giữa cuộc mưu sinh ở xứ người đầy trắc trở, họ tìm đến đồng hương đã chết để mỗi khi vào dịp lễ tết đến thắp nén hương cho những nấm mồ người mình đỡ cô quạnh và mong được phù hộ, che chở”.

Khi đi học tập kinh nghiệm bảo tồn bảo tàng và làm du lịch tại thành phố Sít – ny, ông lại suy tư thật nhiều về Phố Hiến quê nhà. Với tư cách nhà quản lý văn hóa, trực tiếp tham gia và chỉ đạo các dự án bảo tồn, tôn tạo và phục dựng Phố Hiến, ông hiểu rõ hơn ai hết “những năm qua chưa thể làm được vì cần một khoản kinh phí nhiều tỉ đồng và sự phối hợp của các nhà khoa học về lịch sử và khảo cổ từ Trung ương. Cũng như để có tư liệu, hình ảnh về những tàu, thuyền của người phương Tây đến Phố Hiến thời ấy cần phải tìm đến những kho  lưu trữ ở Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Hà Lan… Việc này đòi hỏi phải có đầu tư lớn, nhất là cần có cán bộ chuyên sâu, ngoại ngữ giỏi và nặng tình với Phố Hiến – Hưng Yên”. Và để phát huy giá trị của Phố Hiến, “mục tiêu chỉ ra là xây dựng mô hình mang dấu ấn văn hóa của một số nước, qua đó hấp dẫn khách tham quan thâm nhập và hình dung chứ không thể là công việc phục hồi, tôn tạo di tích!”. Thẳng thắn đến mức phũ, sẵn sàng dội gáo nước lạnh vào lòng nhiệt huyết của không ít người “Tôi vẫn cho rằng chủ trương phục hồi Phố Hiến với yêu cầu tôn tạo, phục hồi di tích lịch sử một khi không có tài liệu, căn cứ khoa học chỉ là mong muốn chủ quan, khó có thể khả thi”. Cách xác định lộ trình, bước đi đúng đắn cùng quan điểm rõ ràng, quyết liệt ấy từ đâu ra nếu không phải từ nguồn tích lũy văn hóa và ý thức trách nhiệm rất cao đối với lịch sử và tương lai?

Trước khi khép lại bài cảm nhận về tập bút ký “Khắc khoải suối Côn Sơn”, tôi xin được nói nhiều hơn một chút về bài ký “Hưng Yên bên dải sông Hồng”. Với cá nhân tôi, đây là một tác phẩm ký đặc sắc làm sáng lại con người tiền nhân anh hùng, vĩ đại nhưng vô danh. Và nếu có thể được, tôi muốn được chọn là nhan đề cho tập sách này của tác giả Nguyễn Phúc Lai, đó là “Hưng Yên bên dải sông Hồng”. Vì sao ư? Vì có quá nhiều lớp trầm tích văn hóa được nhà văn khơi mở bằng mọi kiến thức lịch sử, địa lý, văn hóa, du lịch, khảo cổ, đo đạc, xây dựng… ở đây. Từ lịch sử hình thành dòng sông Hồng hàng vạn năm cần mẫn đem phù sa bồi đắp nên châu thổ sông Hồng. Từ truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung, một trong tứ bất tử của dân tộc Việt Nam đến phát hiện độc đáo về câu chuyện không cũ  công chúa Tiên Dung là vị khách du lịch đầu tiên mở đầu “tuyến” du lịch sông Hồng Hưng Yên. Đến khối lượng thông tin đồ sộ, ăm ắp về nguồn nước, về độ dài đê sông Hồng qua địa phận Hưng Yên (dài nhất, trên 60 km và xung yếu nhất, cộng với hơn 20 km đê sông Luộc thuộc địa phận Hưng Yên nên đê được đắp to và kiên cố hơn cả), về những ám ảnh và mất mát, đau thương do mưa lũ, vỡ đê gây ra cho nhân dân Hưng Yên, về quá trình dài dặc 10 thế kỷ kĩu kịt gánh gồng, cần mẫn không ngừng nghỉ đắp đê chỉ với sức người cùng cuốc, xẻng, gồng gánh, đầm, nện, mang chí khí Sơn Tinh đấu sức với Thủy quái.  Nhưng điều khiến tôi “bật ngửa” về nhận thức chính là một nhận định rõ ràng, tự tin và đầy thuyết phục: đê sông Hồng là một kỳ tích vĩ đại, xứng tầm một kỳ quan văn hóa bậc nhất của dân tộc, không thua kém các công trình được biệt hạng là kỳ quan của thế giới, trong đó có hệ thống đê ngăn biển của Hà Lan. Và còn hơn thế, là đề xuất đầy khả thi của một người đã từng kinh qua quản lý văn hóa, đã từng đi học tập, tiếp thu kinh nghiệm quản lý văn hóa, làm du lịch của rất nhiều nước trên thế giới, một nhà văn tràn đầy ý tưởng sáng tạo – nếu như nước bạn Hà Lan có bức tượng vị tổng công trình sư đứng trên bệ cao, kế bên là pho tượng một người đàn ông đầu trần, quần áo rách tả tơi lộ cả những bắp thịt cuồn cuộn đang khom lưng vác tảng đá trên vai, thì tại sao những Hưng Yên lại không có một tượng đài nghệ thuật về người nông dân đắp đê sông Hồng ngay trên khúc đê làng Phi Liệt, huyện Văn Giang? Cơn bão số 3 Yagi tràn qua Hưng Yên, bao nhiêu tài sản hoa màu của bà con ngoài đê sông Hồng bị hư hại, nỗi đau bão lũ vỡ đê tưởng chỉ còn trong ký ức, trong câu chuyện ngày xưa, nay lại hiện hữu càng thấy trân quý công ơn tiền nhân trên từng khúc đê quanh co uốn lượn. Giấc mơ về con đường du lịch sông Hồng cũng đang dần rõ nét với người Hưng Yên. Vậy thì một đề nghị đã nêu ra, nay nhắc lại có lẽ vẫn cần nghiêm túc nhìn nhận về tính khả thi và tính hiệu quả trong tương lai. (Cá nhân tôi thiết nghĩ, chỉ riêng đề xuất đầy nhân văn, nghệ thuật và khả thi này đã đủ là một điểm ưu tiên để Hội Nhà văn Việt Nam cân nhắc trao giải thưởng Văn học của năm 2024 cho tập sách “Khắc khoải suối Côn Sơn”).

Một lần nữa, xin đứng trên vai người đi trước – Nhà xuất bản Hội Nhà văn – để khép lại bài viết của mình về tập sách: “Hải Hưng đã tạo sinh ông, đã cho ông một sự nghiệp, và tất cả. Với tư cách nhà văn, ông thao thức với cả hai vùng đất. Kia Phố Hiến. Đây Côn Sơn. Những nghĩ ngợi và hiến kế làm sao để Phố Hiến không chỉ tìm lại “một thời vang bóng’’ mà còn phải phát triển mạnh trong tốp đầu bên cạnh sự bảo tồn được văn hóa truyền thống”.

 

 

 

Người đăng: Nhà báo, Ths. Chu Huy Phương