NGUYỄN THỊ HƯƠNG
LTS: Nhà thơ Lưu Tuấn Kiệt sinh ngày 12 tháng 01 năm 1947 tại xã Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (cũ). Ông tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ chống Mỹ; là Hội viên chi hội Thơ, Hội Văn học- Nghệ thuật tỉnh Hưng Yên. Sau một thời gian lâm bệnh, ông trút hơi thở cuối cùng ngày 19 tháng 2 năm 2026, hưởng thọ 79 tuổi.
Di sản văn chương ông để lại gồm 3 tập thơ, 2 tập văn (truyện ngắn và tản văn), 1 tập tiểu luận phê bình văn học. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học có giá trị. Nhà thơ Lưu Tuấn Kiệt ra đi, để lại cho giới văn nghệ sĩ Hưng Yên và bạn bè xa gần niềm thương nhớ, lòng trân trọng một người nghệ sĩ nhân hậu và rất đỗi tài hoa.
Tòa soạn xin trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Nguyễn Thị Hương, nguyên Chủ tịch Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh Hưng Yên, như một nén tâm nhang tưởng niệm nhà thơ Lưu Tuấn Kiệt.
Nghe tin người anh thân thiết, nhà thơ Lưu Tuấn Kiệt ra đi về cõi vĩnh hằng, lòng tôi chùng xuống trong niềm xúc động, hụt hẫng khó tả. Tôi ngậm ngùi nhớ những bậc đàn anh lớn, thuộc hàng “gạo cội” của văn nghệ Hưng Yên đã từ bỏ ngôi nhà chung này, cứ qua mỗi nhiệm kỳ đại hội lại hao hụt mất vài người. Đó là các anh Ngô Hoàng Anh, Đỗ Hữu Tấn, Đồng Bằng, Hoàng Ngọc Lập, Việt Tâm, Nguyễn Ngọc Mài, Đàm Đức Lợi, Hoàng Nẫm, Trần Phức, Nguyễn Cao, Phan Chu Bình, Hoàng Thế Dấn, Lương Sơn, Đào Quang Lâm, Phạm Dụng, Nguyễn Văn Thơ, Vũ Hồng Đức…Và hôm nay là anh- nhà thơ Lưu Tuấn Kiệt! Những con người tài hoa đã từng viết nên bao vần thơ, áng văn đẹp, làm rung động trái tim người đọc ấy thế mà “Rồi một ngày về với khói mây…” (Thơ NTH). Làm sao tôi quên được những tác phẩm gan ruột, để đời của các anh?
Thơ còn đây mà người vắng bóng. Buồn. Thật buồn…!
Cái quy luật Sinh- Trụ- Dị - Diệt đó, Thượng đế chia cho tất thảy mọi con người, nào đâu có trừ ai? Nhà văn nhà thơ, lúc sinh thời véo von thơ thơ phú phú, câu xướng câu tùy mà giờ thì mồ ai người nấy lặng lẽ âm thầm. Rồi mai đây còn ai nữa tiếp bước “hạc giá tiên du”? Rồi ai trong các anh chị, các em hội viên một ngày nào đó cũng sẽ ngồi nhớ tôi như giờ đây tôi nhớ các anh??? Vì tôi làm ở Văn phòng Hội (lúc đầu còn học hỏi và giúp việc Chủ tịch Hội- nhà văn Nguyễn Phúc Lai biên tập Tạp chí Phố Hiến) nên khi viết những dòng này, gương mặt các bác, các anh đã cùng tôi chung vai xây dựng ngội nhà chung Văn học- Nghệ thuật Hưng Yên từ những năm đầu, khóa đầu tái lập tỉnh bỗng hiện lên rờ rỡ, sinh động, đầy nhiệt huyết. Các áng văn thơ và gương mặt, tính cách của mỗi người tôi chẳng thể nào quên được!
Tôi quen biết anh Lưu Tuấn Kiệt từ mấy chục năm trước. Ngày chưa tách tỉnh Hải Hưng thành Hưng Yên và Hải Dương (tháng 1/1997) thì tôi đã “gặp” nhà thơ qua những bài đăng. Anh thì là hội viên “cứng” rồi còn tôi mới chỉ là cây bút trẻ, cộng tác viên Tạp chí Văn học nghệ thuật Côn Sơn (Hội Văn học- Nghệ thuật Hải Hưng). Những bài thơ anh viết trước đó, từ khi còn trong quân ngũ như “Ngọn đèn chờ đợi”, “Trưa bãi khách”, “Tiếng trống”, “Mùa màng”…thấm đẫm tình người cao đẹp được viết với bút pháp nghệ thuật điêu luyện đã in vào tâm trí tôi. Tính anh hiền hậu nên tôi không ngại trêu anh. Tôi bảo: Bài “Mùa màng” của anh hay thì hay thật nhưng có một chi tiết em chê. Ấy là câu “Mẹ tôi điếc/ Nhìn mùa màng qua đêm tối trời sao”- Ai lại viết về mẹ mình thư thế! Anh nhỏ giọng đáp: “Thì mẹ anh điếc thật mà!” rồi cười hiền lành. Ngay từ những ngày đầu, năm đầu cùng sinh hoạt trong Ban Thơ với anh, tôi luôn được các anh (đặc biệt là nhà thơ Ngô Hoàng Anh, Lưu Tuấn Kiệt, Nguyễn Thành) quan tâm theo dõi, giúp đỡ, ủng hộ. Riêng anh Kiệt và chị Ngô Thị Liên -vợ anh- thì có phần quan tâm cô em hơn. Bởi anh có cô em ruột cùng tuổi tôi nên anh chị xem tôi như em gái. Tôi đi họp ở Hà Nội, nếu về qua lối đê Văn Giang thì thường bảo anh em rẽ vào xóm Bến (Phụng Công) chơi, thăm anh chị. Khi ra về thể nào vợ anh sẽ quày quả chạy sang đầu xóm xách về túi bánh răng bừa Phụng Công ngon có tiếng, bảo mang về cho mấy cháu văn phòng ăn chơi. Chị Liên- một người phụ nữ nông thôn chất phác, khỏe mạnh, xốc vác. Chị lam làm. Bao phen tôi bất ngờ rẽ vào anh chị, đều thấy ông anh khi trên gác lúc dưới nhà còn bà chị thì đâu đó ngoài vườn, ngoài đồng. Chị tức tốc ào về như cơn gió, nước nước non non, trong nhà có gì ngon là đem ra đãi khách hết. Bất cứ khi nào thấy bạn văn chương của chồng đến nhà -với ai cũng vậy- chị Liên đều hồ hởi phấn khởi thế. Chị giành hết việc nhà, chăm chút sức khỏe cho anh để anh mặc sức sáng tác thơ văn. Chị yêu ông nhà thơ gầy gò của chị với lòng ngưỡng mộ, tuyệt đối tin tưởng, như con chiên dành cho Đức Cha thiêng liêng. Những tháng ngày anh đau yếu, chị cùng các con Lưu Hồng Quân, Lưu Thu Ngàn, Lưu Cẩm Tú, Lưu Vân Anh ân cần chăm sóc, đưa anh đi khắp các bệnh viện với phương châm “Còn nước còn tát”, nào quản nề hà? Vậy mà Trời chẳng chiều người vẫn đón anh đi. Một ngày xuân hãy còn phơi phới, nhà thơ Lưu Tuấn Kiệt thanh thản ra đi trong vòng tay vợ con và người thân, để lại niềm tiếc thương vô hạn trong tâm hồn những người bạn viết luôn trân trọng, yêu quý anh.
Thơ Lưu Tuấn Kiệt có sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại. Anh luôn tìm tòi sáng tạo để thơ mình có “màu sắc” riêng biệt, đặc sắc. Chỉ trong vòng hơn hai mươi năm (1997-2020), anh đã xuất bản ba tập thơ Hoa râm bụt -1997, Thu nghĩ- 2000, Hồn cỏ- 2010. Như con tằm miệt mài nhả tơ, anh còn cho ra đời những áng văn mượt mà, đậm chất suy tư của một cây viết giàu sức sáng tạo, đam mê cháy hết mình, cống hiến thật nhiều cho nền văn nghệ Hưng Yên. Đó là các tập truyện ngắn Hương rau khúc- 2005, tập tản văn Heo may- 2012, tập phê bình thơ ca Hạt gạo hạt tấm- 2020. Văn là Người. Thơ văn Lưu Tuấn Kiệt luôn kiệm lời, chắt lọc và phản chiếu khát vọng “làm mới mình”. Trong buổi “Trưa bãi khách” trên đường ra chiến trường đầy mưa bom bão đạn, anh viết dòng thơ thật yên bình: “Con tắc kè nghịch quá/ Thả tiếng vào không gian” như tâm hồn trong trẻo của thế hệ các anh thời chống Mỹ. Tôi nhớ nhất những câu thơ mang hình ảnh đẹp, hòa trộn trong niềm xúc cảm không-thời gian sâu lắng:
“Con tàu thời gian- Sớm chiều gửi về mây trắng
Ngọn đèn hôm xưa- thành những chấm sao trời
Em có chỉ cho con vầng sáng
Lửa ngọn đèn thuở ấy cháy không nguôi
(Ngọn đèn chờ đợi)
Những câu thơ chứa chan sức sống được xuất hiện từ những quan sát tỉ mỉ mà gần gũi. Như khi anh viết về cánh đồng quê hương: “Lúa trên đồng/Mênh mông chiếu trải/ Gió vui cuốn tổ tò vò/ Đàn chim chui vào rúc rích” (Cánh đồng); “Cánh đồng/ Mùa sinh nở/Phù sa hồng lên da thịt/ Mưa xuân/ Vắt sữa non” (Ba tháng trông cây). Anh đã đạt đến cảnh giới: Nâng hình ảnh thơ thành biểu tượng khái quát, đem đến cho thơ tầm ý nghĩa sâu xa: “Đất nước thời có giặc/Mẹ tôi/ Âm thầm/ Rấm trăng quê”. Một phép so sánh cho thấy việc rấm trăng như người rấm quả- từ xanh- sang vàng- rồi chín, tượng trưng ấp ủ niềm tin về ngày toàn thắng. Hay hình ảnh “Ngọn đèn chờ đợi” biểu trưng cho lòng thủy chung chờ đợi của vợ - chồng trong chiến tranh. Phát hiện ra ý nghĩa sâu xa từ hình ảnh thực tế đã làm nên tứ thơ xuyên suốt mỗi bài khiến cho thơ Lưu Tuấn Kiệt vừa chững chạc, chặt tràng trong cấu tứ vừa chứa nhiều hình ảnh thơ đặc sắc, mới lạ. Anh luôn tự dặn mình và tâm đắc trao đổi với “cô em gái” về thuật ngữ “Ảo hóa”, “Lạ hóa”… Các bài bình thơ của anh ngắn gọn mà sâu, chí lý. Nhiều bài đã được đọc trong buổi phát thanh Văn nghệ của Đài Tiếng nói Việt Nam. “Quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Tác phẩm của anh chưa thực sự đồ sộ nhưng nó đã định hình rõ một phong cách sáng tạo riêng, độc đáo, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc. Thấy Lưu Tuấn Kiệt là thấy nụ cười chân thành, nhẹ nhàng, khiêm cung. Đọc Lưu Tuấn Kiệt là đọc điệu tâm hồn tha thiết yêu thương, nâng niu, trân trọng con người và cuộc đời; thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc, sẵn sàng vắt kiệt cả đêm đen để đổi lấy một câu thơ đáng nhớ. Sở dĩ được như vậy là nhờ anh có một hậu phương cực kỳ vững chắc. Đến nhà anh chị là thấy ấm cúng, hiếu khách. Nhà thơ Trúc Thông đã có lần đến chơi cả tuần: “Suốt ngày hai ông đàm đạo văn chương”- Chị Liên kể. Thái độ và tình cảm của chị chính là nguồn động viên, cổ vũ, nâng bước anh trên con đường sáng tạo không mệt mỏi, để cho ra đời những áng văn thơ đặc sắc, thấm đẫm nhân văn…
Nhà thơ Lưu Tuấn Kiệt đã về cõi vĩnh hằng, để lại bao nhớ thương cho người thân và bè bạn văn nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh. Ngôi sao văn chương ấy dù không thật chói lọi nhưng đã in dấu ấn sâu đậm trong tim bạn đọc và lung linh sáng trên bầu trời văn học của quê hương Hưng Yên văn hiến.
Và, bóng dáng nhà thơ mảnh khảnh, gương mặt hàm chứa nụ cười đôn hậu, chân thành ấy sẽ mãi còn trong ký ức chúng tôi- những người bạn văn chương gần gũi, thân thiết của anh!