LÝ VĂN VINH
Có những chuyến đi khép lại khi chiếc xe vừa trở về điểm xuất phát, nhưng cũng có những hành trình còn ở lại rất lâu như một lớp màu đã ngấm sâu vào mặt toan, càng theo thời gian càng thêm đằm thắm. Chuyến thực tế sáng tác của Chi hội Mỹ thuật Hưng Yên về vùng biển Hải Bình (Thanh Hóa) là một hành trình như thế.
Mờ sáng, Phố Hiến vẫn còn bảng lảng trong màn sương mùa hạ. Chiếc xe chở các họa sĩ lặng lẽ rời phố, mang theo giá vẽ, hộp màu cùng những tấm toan trắng. Thời tiết sáng hôm ấy chiều lòng người đến lạ: không khí mát mẻ, dìu dịu như xua tan cái nắng oi nồng thường nhật. Mỗi họa sĩ là một cá tính cùng chung một cơn khát sáng tạo trước không gian bao la của biển. Ngay từ những km đầu tiên, không gian trong xe đã rộn ràng tiếng cười. Người ta kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện, từ chuyện nghề, chuyện đời tư, cho đến những trăn trở bên giá vẽ. Suốt chặng đường đi, những câu chuyện về một tác phẩm dang dở, một vệt màu vừa phát hiện hay ký ức chuyến đi năm cũ cứ nối tiếp nhau. Qua ô cửa kính, biển chưa hiện ra, nhưng trong hình dung của mỗi người, những mảng màu đầu tiên đã bắt đầu cựa quậy.
Biển luôn có một ma lực đặc biệt đối với người cầm cọ. Nó không chỉ rộng lớn bởi đường chân trời thăm thẳm, mà còn quyến rũ bởi sự biến ảo khôn lường của ánh sáng, màu nước và nhịp sống trên bến dưới thuyền. Mỗi khoảnh khắc của biển là duy nhất, không lặp lại - vừa là thử thách nghiệt ngã, vừa là niềm khao khát chinh phục của người làm hội họa. Buổi chiều đầu tiên, đoàn dừng chân bên Bãi Đông. Con đường nhỏ dẫn qua làng chài quanh co với những mái nhà thấp nép mình sau hàng phi lao xanh thẫm, mùi nước mắm mặn mòi quyện vào vị mặn của gió biển đặc trưng của miền duyên hải. Bãi biển mở ra khoáng đạt với những con thuyền nghỉ ngơi trên mặt nước thẫm màu và ghềnh đá chông chênh nơi sóng trắng miệt mài gọt rửa ngày đêm.
Không ai bảo ai, các họa sĩ tản ra nhiều hướng. Người leo lên mỏm đá cao tìm góc nhìn bao quát, người đứng lặng bên mép nước theo dõi vệt ánh sáng cuối ngày dịch chuyển trên cánh buồm. Tách khỏi nhóm dưới bãi cát, một vài người hào hứng men theo con đường dốc ngoằn ngoèo lên trạm đèn Hải Đăng. Những bậc đá rêu phong mờ xám dẫn lối qua vạt bụi rậm, càng lên cao gió biển càng thổi lồng lộng. Từ vọng đài của trạm hải đăng cổ kính, tầm mắt mở trọn vẹn ra khoảng trời biển mênh mông, thu trọn từng nhịp sóng vỗ vào vách đá dựng đứng. Chưa kịp dựng giá vẽ, mỗi người đã tự cất cho mình vài bức phác thảo trong trí nhớ. Bãi Đông đẹp tĩnh lặng, quyến rũ theo cách khiến người ta muốn nán lại thật lâu. Thế nhưng, hành trình khám phá nhịp sống lao động vẫn thúc giục đoàn hướng về một địa điểm khác: bến cá Hải Bình. Đoàn văn nghệ sĩ Hội VHNT tỉnh Hưng Yên lưu luyến chẳng muốn rời xa, cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ trên trạm Hải Đăng khi câu chuyện còn dang dở.
Trái ngược với vẻ nguyên sơ của Bãi Đông, bến cá Hải Bình chào đón người nghệ sĩ bằng nhịp điệu hối hả, cuộn trào. Từ ngoài cửa lạch, từng đoàn thuyền nối đuôi nhau trở về sau chuyến đánh bắt đêm. Tiếng máy tàu rầm rộ, tiếng gọi nhau í ới, tiếng thùng nhựa va đập và tiếng mặc cả xôn xao hòa vào nhau thành một hợp xướng đặc thù của miền biển. Dưới ánh nắng xiên, khoang thuyền lấp lánh sắc bạc của cá, màu hồng tươi của tôm và màu xanh thẫm của những tấm lưới đẫm nước. Trên cầu cảng, những đôi vai rám nắng thoăn thoắt nhịp nhàng chuyển từng sọt hải sản lên bờ. Người họa sĩ tìm đến bến cá không phải để sao chép nguyên mẫu từng con thuyền hay gương mặt, mà để bắt lấy cái "thần thái" của không gian. Linh hồn của Hải Bình nằm ở cái nắng chói chang, vị mặn mòi của gió và nhịp điệu lao động khỏe khoắn ấy. Chỉ cần đứng lặng vài phút giữa không gian ấy, nguồn cảm hứng sáng tác đã sục sôi trong lòng mỗi người.
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa nhô lên khỏi mặt biển, đoàn họa sĩ đã trở lại bến cá. Mỗi người chọn cho mình một góc đứng: người hướng ngọn cọ vào những người phụ nữ đang cặm cụi gỡ lưới; người say mê những khối hình chồng xếp của hàng chục mạn thuyền neo sát nhau; người lại chọn khoảng không gian bao la nơi trời, nước và cánh buồm gặp nhau ở đường chân trời. Đúng lúc đó, một người ngư dân tóc điểm bạc lặng lẽ tiến lại phía sau một họa sĩ, chăm chú nhìn vào bức toan đang phủ dần màu sắc. Ông cười hiền, cất giọng mộc mạc:
- Họa sĩ vẽ biển mà sao nước không xanh, trời cũng chẳng xanh?
Trên mặt toan lúc ấy, biển hiện lên bằng những gam đỏ nâu, vàng cam và tím sẫm - những sắc màu của cảm xúc chứ không phải màu sắc tả thực của tự nhiên. Người họa sĩ mỉm cười đáp:
- Tôi không cố chép lại màu sắc của biển, mà muốn vẽ cái không khí, cái nắng và sức sống của bến cá nơi đây. Mỗi người cầm cọ đều có một cách nhìn riêng ông ạ.
Người ngư dân im lặng rất lâu. Ông nhìn ra bến cá rộn ràng, rồi lại đăm đắm nhìn vào bức tranh. Rất chậm rãi, ông gật gù:
- Ra vậy...Tôi cứ tưởng vẽ là phải giống hệt ngoài đời. Hóa ra còn phải vẽ cả cái hồn nữa.
Chỉ một câu nói đơn sơ ấy cũng đủ làm ấm lòng người nghệ sĩ. Khoảng cách giữa nghệ thuật thuần túy và đời sống thường nhật dường như được xóa bỏ bằng sự đồng cảm diệu kỳ. Ngay sau đó, ông lão mang ra một ấm trà nóng, mời người họa sĩ ngồi nghỉ ngay trên khoang thuyền của mình. Chén trà chát ngọt giữa gió biển không chỉ xua đi cái nắng gắt ban trưa, mà còn đem lại cảm giác ấm áp như cuộc hội ngộ giữa những người bạn tri âm.
Giữa lúc những nét cọ đang say sưa liền mạch, biển bỗng dưng đổi sắc. Mây xám từ chân trời đùn đùn kéo đến, gió nổi lên từng cơn mang theo hơi nước lạnh ngắt rồi cơn mưa rào bất ngờ ập xuống bến cảng. Chỉ trong chốc lát, cả bến cá chìm trong màn nước trắng xóa. Những tấm toan còn thơm phức mùi màu lập tức ướt sũng; màu chưa kịp khô bắt đầu nhòe đi, loang chảy vào nhau thành những mảng sắc vô định. Có tiếng gọi với vang lên qua tiếng mưa: "Anh Vinh ơi, tranh em nhòe hết rồi!". Người họa sĩ chỉ bật cười đáp lại: “Thế thì đúng phong cách lụa của em rồi còn gì! Vẽ lại rửa, rửa lại vẽ”. Thu Hương vốn là họa sĩ chuyên vẽ tranh lụa, những nét màu mờ mờ ảo ảo do nước mưa vô tình tạo ra lại hóa thành một hiệu ứng thẩm mỹ đầy ngẫu hứng.
Không ai kịp thu dọn. Người ôm giá vẽ chạy tìm mái hiên, người lấy áo mưa che tạm mặt toan, nhưng cũng có người đứng mặc kệ, đăm đắm nhìn dòng màu đang chảy tự do dưới tác động của thiên nhiên. Dưới cơn mưa ấy, mỗi bức tranh nhận lấy một số phận mới. Có bức mất đi những đường nét cầu kỳ ban đầu, nhưng lại xuất hiện những vệt màu mềm mại, bảng lảng như sương khói - hiệu ứng ảo diệu mà nếu chủ đích, chưa chắc bàn tay con người đã tạo ra được.
- Vào khoang tàu trú mưa đi các chú! Mưa biển đến nhanh mà đi cũng nhanh lắm! - Tiếng người ngư dân lúc nãy lại giục giã.
Khoang tàu nhỏ chật kín mùi gỗ mục, mùi lưới cá và hơi trà nóng bốc khói. Bên ngoài, mưa vẫn rào rạt gõ lên mui tàu. Trong không gian chật hẹp ấy, cuộc trò chuyện giữa những người ngư dân và người nghệ sĩ không còn dính dáng đến kỹ thuật hay bố cục. Họ nói về những chuyến ra khơi xuyên đêm, những mùa cá đầy khoang và cả những ngày biển động phải nằm bờ lo lắng. Những câu chuyện đời thực, mộc mạc ấy chính là chất nhựa sống cuồn cuộn mà không một giáo trình mỹ thuật nào có thể cung cấp. Đúng như lời người đi biển kinh nghiệm, mưa tạnh rất nhanh. Mặt trời lại xé mây chui ra, rót xuống bến cá một lớp nắng vàng óng ánh. Nước đọng trên boong tàu lấp lánh như những mảnh gương vỡ; tiếng máy nổ và tiếng chuyển cá lại rộn rã cất lên. Các giá vẽ được dựng lại. Sau cơn mưa, cảm xúc sáng tác dường như đầm sâu và khoáng đạt hơn. Những vệt màu nhòe ướt không còn là sự cố, mà đã trở thành dấu ấn riêng biệt mà biển trời Hải Bình khắc lên mặt toan.
Chiều muộn, nắng dịu dần, những giá vẽ lần lượt được gấp lại. Dọc hành lang khách sạn, những bức tranh chưa kịp khô được dựng thành hàng. Mùi sơn dầu, màu acrylic quyện với mùi gió biển còn vương trên áo quần mọi người. Không ai bình phẩm hơn thua, chỉ lặng lẽ ngắm nhìn tác phẩm của nhau, trao đổi khẽ khàng về một vệt ánh sáng hay cách xử lý bố cục. Mỗi bức tranh là một Hải Bình riêng biệt: bức ngập tràn sắc nắng, bức trầm mặc sau mưa, bức lại là những mảng hình cách điệu sống động.
Sáng hôm sau, chiếc xe lặng lẽ lăn bánh rời Thanh Hóa. Qua ô cửa kính, bến cá Hải Bình nhỏ dần rồi khuất sau rặng phi lao, ngoài cửa lạch là những con tàu lại rẽ sóng ra khơi dưới ánh bình minh đỏ rực. Chuyến đi khép lại, những bức tranh rồi sẽ được tiếp tục hoàn thiện trong phòng vẽ lặng yên. Màu sắc có thể điều chỉnh, bố cục có thể gọt giũa, nhưng cảm xúc nguyên sơ của những ngày đứng trước sóng gió Hải Bình thì không bao giờ lặp lại. Đó là cái nhìn hồn hậu của người ngư dân hiểu thế nào là "vẽ cái hồn", là chén trà nóng đậm vị muối giữa khoang thuyền, và là cơn mưa rào bất chợt hòa màu cùng người họa sĩ. Hải Bình không chỉ trao cho họ chất liệu để sáng tác, mà còn trao tặng một bài học về sự đồng cảm và lòng mở rộng trước những bất toàn của đời sống. Nhiều năm sau, màu trên toan có thể ngả theo thời gian, nhưng ký ức về nhịp sóng, tiếng gọi bến cá và những nét cọ neo trên sóng Hải Bình chắc chắn sẽ còn vẹn nguyên trong tâm trí những người làm nghệ thuật.