PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT ĐỂ CÓ THÊM NHIỀU TÁC PHẨM XỨNG TẦM VỀ CHỦ ĐỀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÀ CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

 

 

 

 

                                                                                                           Bùi Huệ

 

          Các tác phẩm văn học, nghệ thuật về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng vẫn luôn là một trong những dòng chảy quan trọng bậc nhất của nền văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện nay. Đây cũng là đề tài luôn nhận được sự quan tâm của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ và những người yêu thích văn học, nghệ thuật trên cả nước.

          Hiếm có một dân tộc nào mà trong hành trình lịch sử hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước mà các dấu mốc quan trọng nhất lại thấm đẫm xương máu của biết bao người con ưu tú đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất của cha ông như dân tộc Việt Nam. Cho tới hôm nay, những dấu mốc lịch sử bi tráng, hào hùng ấy vẫn luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo của nhiều thế hệ văn nghệ sỹ.

          Có một thực tế hiện nay là không ít người đọc, kể cả bạn đọc trẻ ngại đọc các tác phẩm văn học về đề tài chiến tranh, ngại nghe hát các ca khúc cách mạng. Họ nói rằng đọc mãi, nghe mãi, xem mãi những tác phẩm ấy, đề tài ấy, quen thuộc quá rồi, không có gì mới mẻ nữa. Nhận thức được điều đó, nhiều nhà văn, nhà viết kịch, họa sỹ hiện nay khi sáng tác về đề tài chiến tranh cách mạng đã cố gắng tìm tòi, khai thác những điều mới lạ hơn, những khía cạnh mà trước đó chưa được khai thác nhiều với hy vọng những cố gắng này sẽ giúp công chúng yêu thích và quan tâm đến mảng đề tài này hơn. Đó là việc các tác giả không còn giữ thái độ, cách nhìn của vài chục năm trước mà nhìn cuộc chiến của dân tộc ở nhiều góc độ khác nhau, con người hơn, nhân văn hơn khi khắc họa sự khốc liệt của chiến tranh với những nỗi đau tận cùng mà những con người ở thời kỳ đó đã vượt qua. Hai cuộc kháng chiến anh dũng đã giành được thắng lợi, đất nước được thống nhất hoàn toàn nhưng hàng triệu người con của dân tộc đã phải đổ bao máu xương và nước mắt.

          Các tác phẩm văn học, nghệ thuật vẫn luôn coi trọng mục đích phản ánh cuộc kháng chiến vĩ đại, khẳng định tính chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, nhưng sau năm 1975, các tác giả đã tập trung khai thác, nhấn mạnh hơn vào tính chân thực của cuộc chiến. Họ không bằng lòng với hiện thực được lý tưởng hóa một chiều, ngoài việc khai thác những thắng lợi để khơi dậy niềm tự hào của dân tộc thì cũng cần khắc họa những tổn thất, hi sinh, những nỗi đau tột cùng mà chiến tranh đã gây ra và để lại cho dân tộc ta. Nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật chất lượng đã ra đời từ các cuộc thi, các cuộc vận động sáng tác trên khắp cả nước. Tiêu biểu như “Cuộc thi sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật có chất lượng cao về tư tưởng, nghệ thuật, phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước giai đoạn 1930 - 1975” đã thu hút sự tham gia của đông đảo văn nghệ sĩ khắp cả nước. Nhiều tác phẩm chất lượng ra đời mang theo những luồng gió mới về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang. Các tác phẩm đã đề cao đóng góp của những con người không trực tiếp cầm súng chiến đấu ở mặt trận mà ở hậu phương, chiến đấu với đói nghèo. Các tác giả đã mang đến cho người đọc những cảm nhận mới về đời sống của kháng chiến, cách mạng, nhất là về hậu phương trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi có đầy mâu thuẫn, cam go và con người phải gồng mình để hoàn thành tốt sứ mệnh vì miền Nam ruột thịt, vì mục tiêu thống nhất nước nhà hay những tác phẩm khắc họa vai trò của những nhân vật lịch sử gắn liền với những chiến công vẻ vang của dân tộc như Đại tướng Võ Nguyên Giáp… Để tạo sự hấp dẫn cho các tác phẩm, thu hút được đông đảo công chúng, các tác giả đặc biệt đề cao tính sáng tạo. Các tác phẩm sân khấu cũng đã thể hiện đề tài cách mạng với cách nhìn hiện đại, tạo cảm xúc khác biệt cho người xem, thủ pháp sân khấu hiện đại, hiệu ứng mới, lạ. Cách trang trí sân khấu, âm nhạc, vũ đạo cũng được kết hợp giữa phong cách, ngôn ngữ truyền thống với hiện đại…

          Có thể thấy, các tác phẩm văn học, nghệ thuật về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng sẽ luôn là mảnh đất màu mỡ nếu như các tác giả biết khai thác và khơi gợi những nguồn mạch mới bởi chiến tranh và sự bi tráng của nó, tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, sự dũng cảm hy sinh quên mình bao giờ cũng dễ khơi gợi được xúc cảm của khán giả.

          Những năm gần đây, xuất hiện nhiều bộ phim về đề tài chiến tranh cách mạng nhận được sự quan tâm đặc biệt của công chúng. Trong đó, nổi bật và tạo  được sự bùng nổ phòng vé nhất từ trước đến nay chính là bộ phim điện ảnh “Mưa đỏ” dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Chu Lai. Tác phẩm từng đoạt giải A cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2016 và giải A giải thưởng của Bộ Quốc phòng. Bộ phim được lấy bối cảnh là trận chiến kéo dài 81 ngày đêm ở Thành cổ Quảng Trị mùa hè năm 1972 (28/6/1972 - 16/9/1972). Có thể nói, trận chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 là một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử: 10.000 tấn bom trút xuống, mỗi ngày có tới hàng trăm sinh mạng ngã xuống, phần lớn là sinh viên, tầng lớp tri thức trẻ của đất nước. Họ ngây thơ, lãng mạn nhưng khi vào cuộc chiến họ nhanh chóng trở thành những chiến sĩ kiên cường nhờ trí tuệ và lý tưởng chiến đấu cao cả. Tiểu đội 1 trong phim “Mưa đỏ” là sự góp mặt của nhiều thành phần, họ chính là hiện thân của “Bắc, Trung, Nam cùng ra trận” với lời thề “K3 Tam Sơn còn, Thành cổ còn”. Bộ phim ra mắt đúng vào dịp cả nước đang cùng hướng về ngày lễ lớn của cả dân tộc, chào mừng kỷ niệm 80 năm cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam 2/9. Có lẽ chính nhờ vậy mà bộ phim đã được hòa nhịp với không khí tri ân quá khứ, tinh thần hướng về cội nguồn đang sục sôi trên khắp mọi miền Tổ quốc. Bộ phim thu hút khán giả thuộc mọi lứa tuổi, đặc biệt thế hệ trẻ đến rạp xem phim một cách nghiêm trang, chứ không phải vì hiếu kỳ hay chạy theo trào lưu. Có nhiều khán giả đã đi xem đến 4, 5 lần bởi họ chấp nhận bước vào nỗi đau để cảm nhận thật trọn vẹn mạch phim. Và càng đi qua đau thương bao nhiêu, họ càng thấy tự hào, càng thấm thía câu nói “Tự do, hòa bình không phải dễ, có được bây giờ cố gắng mà giữ”. Với doanh thu 714 tỷ VNĐ, “Mưa đỏ” đã trở thành phim điện ảnh có doanh thu cao nhất lịch sử phòng vé Việt Nam. Điều đó chứng minh rằng, đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng chưa bao giờ bị lãng quên. “Mưa đỏ” tạo lên một “cơn sốt” không ngẫu hứng, mà xuất phát từ lòng yêu nước tiềm tàng trong mỗi người Việt. Nó chỉ góp thêm một tiếng nói nhỏ để khẳng định lòng tự hào dân tộc vẫn vẹn nguyên, chưa bao giờ vơi cạn.

Bên cạnh đó, hình ảnh những người lính thời bình đang ngày đêm bảo vệ toàn vẹn biên giới, hải đảo của Tổ quốc cũng cần được khắc họa sâu sắc qua các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Họ gánh vác nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và dựng xây đất nước với muôn vàn gian khổ, nhiều thiệt thòi, hi sinh mà không phải ai cũng thấy. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào màu áo, so sánh đồng lương của họ được hưởng thì chắc chắn không thể hiểu hết được hoàn cảnh cũng như tinh thần, trách nhiệm của người lính thời bình. Dù trong thời bình nhưng vẫn có những người lính ngã xuống ở nhà giàn DK1, quần đảo Trường Sa hay trên những nẻo đường biên giới ẩn chứa bao hiểm nguy, trong thiên tai, bão lũ, trong khi làm nhiệm vụ… Vậy nên, chúng ta đừng nghĩ rằng người lính thời bình chỉ có luyện tập trên thao trường hay tăng gia sản xuất. Họ vẫn đang ngày đêm căng mình để gìn giữ chủ quyền đất nước, vẫn miệt mài học tập nắm vững kiến thức khoa học tiến tiến để xây dựng quân đội chính quy hiện đại, vẫn luôn có mặt trên những công trình quan trọng của đất nước. Nhìn chung, các tác phẩm văn học, nghệ thuật về người lính thời bình còn chưa tương xứng với sự cống hiến của họ. Lực lượng vũ trang không bao giờ là mảnh đất hiện thực cằn cỗi, phai bạc đối với văn nghệ sĩ nếu không nói là nó vẫn còn rất hấp dẫn, có chăng là chưa có sự đầu tư đúng mức hay do quan niệm của người viết bây giờ. Nhiều khi người viết chưa thấy được chân dung, diện mạo của người lính thời bình, khi nhân vật người lính bị đẩy ra khỏi trung tâm của hiện thực đời sống, nhiều người viết trẻ ngại ngần với đề tài người lính, đặc biệt là người lính thời bình.

Trong thời gian tới, để có những sáng tác tốt về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng trong giai đoạn mới, chúng ta cần vận động đồng bộ cả hai mô hình: Vận động diện rộng và đầu tư có chiều sâu:

Vận động rộng khắp là phát hiện đội ngũ tác giả, đầu tư chiều sâu là tập hợp xây dựng đội ngũ tác giả, phải đi vào đầu tư chiều sâu, đầu tư có trọng điểm, đầu tư cho tác giả, nhóm tác giả, đầu tư cho tác phẩm. Không nên chạy theo những phong trào chung chung thì mới hi vọng có những tác phẩm chất lượng nghệ thuật cao. Không thể chỉ làm một cuộc vận động chung chung như chúng ta đã và đang làm vì kết quả hiển diện ngay ở các cuộc thi, các cuộc triển lãm khu vực và toàn quốc những năm qua chưa thấy xuất hiện những tác phẩm mang tính đột phá, kể cả với các tác giả đã thành danh và đội ngũ tác giả trẻ, nhiều tác phẩm vẫn chỉ mang tính minh họa.

Một trong những giải pháp quan trọng là cần phối hợp tổ chức tốt, có hiệu quả các chuyến đi thâm nhập thực tế đến với các đơn vị bộ đội, công an nhân dân cho đội ngũ văn nghệ sĩ để ghi chép, thu thập tài liệu phục vụ cho công việc sáng tác, xây dựng tác phẩm, góp phần phản ánh hình tượng người chiến sĩ mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Tăng cường tổ chức các trại sáng tác tập trung, có thể dài ngày hơn về những đề tài khó, ít người khai thác để các tác giả có điều kiện hoàn thiện và cho ra đời những tác phẩm chất lượng tốt.

Có một thực tế, chiến tranh đã lùi xa hàng nửa thế kỷ, những tác giả đi qua các cuộc kháng chiến đã thưa vắng dần, điều kiện kinh tế của đa phần tác giả còn nhiều khó khăn nên mặc dù cảm xúc, tư liệu về cuộc chiến vẫn còn vẹn nguyên nhưng không có điều kiện để khai thác. Đã đến lúc chúng ta cần tìm cho được một hình thức vận động khả thi, đúng người, đúng tầm với cuộc vận động sáng tác các tác phẩm văn học, nghệ thuật chất lượng cao. Không thể không tập hợp xây dựng một đội ngũ tác giả tiêu biểu cho đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng. Và nòng cốt của lực lượng sáng tác về đề tài này chính là những nhà văn, văn nghệ sĩ khoác trên mình bộ quân phục. Mong muốn rằng những nhà văn, những văn nghệ sĩ gạo cội bằng tài năng và tâm huyết của mình hãy kết nối, truyền lửa cho các văn nghệ sĩ trẻ tiếp tục cống hiến viết về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng để dòng chảy ấy được tiếp nối không ngừng.

Vấn đề đầu ra cho các tác phẩm về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng cũng cần được các cấp, các ngành trong và ngoài quân đội quan tâm đúng mức. Cần có những cơ chế đặt hàng để tạo động lực sáng tác cho đội ngũ văn nghệ sĩ. Với những tác phẩm chất lượng có thể xem xét để chuyển thể thành các bộ phim truyền hình. Bởi thực tế thời gian gần đây, hiệu ứng tích cực từ các bộ phim truyền hình về đề tài người lính như “Mùa xuân ở lại”, “Cuộc chiến không giới tuyến”, “Không thời gian”… đã mang lại những hiệu ứng tích cực. Việc khắc họa chất lính thời bình trên phim để nhân dân cả nước, nhất là thế hệ trẻ hiểu sâu sắc về nhiệm vụ của người lính thời bình hiện nay, qua đó khơi gợi niềm tin, lý tưởng sống cao đẹp, có trách nhiệm hơn với Tổ quốc là việc hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, nó còn có tác dụng to lớn trong việc cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ toàn quân nỗ lực phấn đấu, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần lan tỏa phẩm chất, hình ảnh đẹp của lực lượng vũ trang thời kì mới.

Chiến tranh đã đi qua nhưng đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng sẽ vẫn tiếp tục đồng hành và trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho đội ngũ văn nghệ sĩ cả nước. Hi vọng trong thời gian tới, với sự đổi mới trong đầu tư cùng nhiệt huyết của đội ngũ văn nghệ sĩ, nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị về lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng sẽ ra đời để tiếp tục “ươm trồng” hạt giống của cái đẹp, của lòng nhân ái và sự tử tế, giữ gìn và thổi bùng lên ngọn lửa truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong mỗi con người Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người đăng: Nhà báo, Ths. Chu Huy Phương