RƯỢU LÀNG TÔI
Ký: Nguyễn Văn Thích
Mấy năm nay, cứ đến những ngày này, khi mà cái rét tràn về, báo hiệu một năm nữa sắp sửa trôi qua, tôi lại đến thăm cụ Vũ. Không chỉ riêng trong hội nhà giáo mà ngay cả ở làng, cụ là người hiếm hoi ở cái tuổi suýt soát chín mươi còn sót lại mà vẫn mạnh khỏe, minh mẫn. Gần trọn thế kỷ, sinh rồi lớn lên ở làng, cụ biết khá nhiều chuyện. Từ chuyện thực, chuyện ảo, chuyện làm ăn, nghề nghiệp, đến chuyện nghi lễ, các điển tích về tên làng, tên xóm, chuyện nào cụ kể cũng rành rẽ.
Làng tôi có cái tên ngồ ngộ “Hành Lạc”. Cứ vài người ngồi với nhau mà nói đến tên làng, hầu như nhiều chuyện lại nổ ra. Người thì bảo Hành Lạc là đi và vui. Người thì bảo Hành Lạc là một lạc thú ở đời. Người lại bảo, rượu Hành Lạc ngon đến mức, người đến đây mà uống là bị lạc đường về. Chẳng biết đúng sai ra sao, nhưng tên làng là thế, nhiều đời người làng gọi thế, do vậy dù có thế nào thì tên làng vẫn chẳng thể đổi thay.
Trong phạm vi bài viết ngắn này, tôi không có ý định bàn về tên làng mà chỉ nhằm giới thiệu một nghề của làng đã có từ lâu năm: Nghề nấu rượu!
Trong khuôn viên căn phòng nhỏ mà ấm cúng, muốn trình bày ngay ý định của mình, tôi quay sang cụ Vũ hỏi:
Nghề nấu rượu ở làng ta có từ bao giờ ạ?
Cụ Vũ không trả lời ngay mà rót trà ra hai cái tách. Màu xanh nhạt cùng hương trà lan tỏa đầy quyến rũ. Nhấp một ngụm nhỏ, cụ ngồi chống tay lên cằm như để nhớ lại những hồi ức mà gần chín chục năm trời cụ đã từng được thấy, được nghe:
Tôi không dám khẳng định, nhưng chắc chắn một điều nghề nấu rượu ở làng ta có từ những năm đầu của thế kỷ XX.
Rồi cụ cứ chậm rãi dường như vừa kể vừa lục tìm trong bộ nhớ những gì còn hằn sâu trong cụ:
Vào khoảng những năm 19, 20 của thế kỷ trước, trong vùng ai cũng biết cụ Lý làng Hành. Cụ Lý sinh cùng thời với bố tôi. Bố tôi bảo, cụ thấp nhỏ, hoạt bát, giỏi lý sự, giỏi câu đối, văn thơ. Chuyện cụ tình cờ ra vế đối với một ông bạn, thật mà cứ như là giai thoại.
Cụ Vũ ngừng lời giây lát:
Xin cho tôi được lan man đôi chút vì cả người ra vế đối cùng người đối đều rất tài tình. Một ngày xuân có người bạn là bậc chữ nghĩa quê Chằm Chỉ, Thuận Thành, Bắc Ninh, cùng một cô gái nhà trò quê Tống Trân, Phù Cừ, Hưng Yên đến chơi. Làm thủ tục của chủ nhà xong, cụ quay sang cô gái. Biết ý, người bạn giới thiệu về nhân thân quê quán của cô gái, cụ buông một câu vừa như hỏi, vừa như trêu bạn:
Thục nữ ở dưới Tống lên?
Biết câu hỏi của cụ Lý là thử tài năng ứng đáp của mình, sau một chút căng thẳng suy nghĩ, người bạn đáp lại:
Quân tử từ trên Chằm xuống.
Tôi không biết nhiều về câu đối, nhưng nếu xếp hai câu cạnh nhau thì hẳn là một cặp đối hoàn hảo. Nó vừa thật, vừa lỡm, lại mang phong cách của các ông đồ, khiến người nghe không thể không thích thú.
Đang lúc tôi bị thôi miên thì cụ Vũ ngừng lời, rót trà ra hai cái tách:
Mời ông thưởng thức trà đã. Làm trai cứ nước hai mà hưởng!
Sau tách trà thứ hai, cụ Vũ phấn chấn hẳn lên.
Một lần lính đồn vào khua khoắng – cụ kể tiếp – Chúng bắt được mấy vò rượu giấu trong khuôn viên chùa làng. Chúng cho gọi cụ ra lập biên bản. Biết rằng khi ấy giấu rượu là một tội rất nặng, nếu cụ ra chứng kiến, làng sẽ lao đao. Cụ trầm tư một lát rồi dứt khoát:
Làng có đình, nơi tập trung đông đủ những chức sắc của làng. Các anh cứ khiêng về đình rồi giải quyết.
Nói đoạn, cụ Lý mặc quần áo chỉnh tề, đi guốc, chống ba toong đến đình làng ngồi chờ. Khi bọn lính khiêng rượu sắp bước vào khuôn viên của đình, cụ sai người lấy gạch đập vỡ mấy vò rượu rồi bình thản nhìn vào bọn lính nói:
Các ông khiêng rượu từ đâu đến rồi đòi phạt vạ làng tôi à!
Rượu đổ tung tóe cả một đoạn đường đất dẫn vào đình làng, một lúc sau ngấm vào lòng đất. Chẳng còn chứng cớ và cũng chẳng biết đối đáp ra sao, bọn lính bèn tẽn tò về đồn.
Khoảng năm 1930, kinh tế nhà cụ Dương khá lên vì nghề nấu rượu. Nhà cụ Dương có địa thế thuận lợi, xung quanh cây cối bao phủ dày đặc, khi chưng cất rượu khó bị phát hiện, lại gần cánh đồng Ba Khe (ngày ấy được coi như nghĩa địa của làng) nên dễ cất giấu. Hàng mấy năm liền, dù rượu có bị cấm khắt khe, nhà cụ Dương vẫn làm ăn trót lọt. Sau này, cụ vẫn không bỏ nghề. Người làng đã quen với cái tên “rượu Ba Khe” trong một thời gian khá dài.
Không hiểu từ bao giờ mà cứ mỗi khi ngồi vào mâm, người làng (nhất là đàn ông) lại lấy rượu làm món khai vị. Cho dù uống rượu say, có người sẽ không làm chủ được mình trở nên quậy phá và nói năng bừa bãi. Cổ xưa đã đúc kết có ba loại say: cẩu tửu, loại uống rượu rồi quậy phá, nói năng không kiềm chế; thỉ tửu, người uống rượu say, nằm lăn ra ngủ, mặc trời đất và những xáo động xung quanh; và tiên tửu.
Những người được liệt hàng tiên tửu thì khi có chất rượu trong người, cả quá khứ, cả những dự định tương lai cùng lúc ùa về, để người ta nói ra, viết lên những lời hay, ý đẹp. Ngay cả những nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ… cũng vậy. Bên Tàu, đời Đường tiên tửu Lý Bạch trong cơn say ngất trời đã cho ra những vần thơ trác tuyệt. Ở ta, những văn nghệ sĩ như Tản Đà, Nguyễn Tuân, Văn Cao, Nguyễn Sáng… là những người rất sành rượu. Đặc biệt tác giả bài “Tiến quân ca” nổi tiếng, trước những loại rượu Tây, rượu Tàu đắt tiền, vẫn thích loại rượu nấu bằng gạo nếp cái hoa vàng của các vùng quê.
Có lẽ nhận thấy rượu là thứ không thể thiếu trong các ngày lễ, ngày tết, đám hiếu, đám hỉ… nên dù có là mặt hàng bị cấm, chính quyền vẫn cấp phép cho một số người sản xuất (lúc ấy gọi là Ty rượu). Cụ Sĩ, cụ Chiện, cụ Động là những người làng đầu tiên được mở Ty. Người đi mua rượu không phải lén lút mà xách chai công khai, nhưng phải có một hóa đơn do cấp có thẩm quyền cấp.
Như để minh chứng cho lời cụ kể, cụ Vũ tiếp:
Nhà tôi gần nhà cụ Chiện, nên những lúc rảnh rỗi vẫn sang nhà cụ Chiện vừa để xem nấu rượu, vừa để trò chuyện. Một lần vào những ngày giáp tết, thấy tôi, cụ Chiện cầm chai rượu lên tay, lắc lắc vài cái rồi hỏi:
Ông nhìn xem rượu có tốt không?
Nhìn bọt tăm phủ kín bề mặt chai, tôi gật gật đầu. Rồi tỏ ra là người có kinh nghiệm, cụ Chiện vừa nhìn tôi vừa nói:
Những tháng mùa đông, rượu phải có tăm mới đạt tiêu chuẩn, còn mùa hè thì làm tài đến mấy cũng chỉ được trong chai mà thôi. Nhất là những hôm gió Tây, rượu thường hay bị hỏng.
Rồi như vô tình cụ buông một câu “nước tháng năm, tăm tháng mười”. Như một kinh nghiệm để chọn rượu, câu này được truyền nhau khá nhanh. Cho đến bây giờ dẫu có thêm thắt đôi chút “xem nước tháng năm, xem tăm tháng mười” thì nghĩa của câu nói đó vẫn không hề thay đổi.
Trời ngả sang chiều, mặc dù chuyện về rượu Hành Lạc còn nhiều điều thú vị chưa được khám phá, nhưng muốn để cụ Vũ có chút thời gian nghỉ ngơi, tôi đứng dậy xin phép ra về. Đưa đến hết sân nhà, cụ vỗ vỗ vào vai tôi rồi chắp hai bàn tay lên ngực như một lời chào tạm biệt. Tôi cúi người chào lại.
Về đến nhà, nằm lên giường, tôi miên man suy nghĩ. Cảm giác buồn vui trong tôi cứ đan xen lẫn lộn. Vui vì được biết và tự hào về một nghề truyền thống của làng, buồn vì từ lâu tôi đã thờ ơ với nó.
Tôi quyết định ghi vài dòng về cuộc trò chuyện hôm nay.
Đang có ý định sắp xếp thứ tự cho bài viết, bất giác tôi nhớ thêm có lần cụ Ngô, nay đã suýt soát tám mươi, ở xóm dưới của làng từng được nghe các cụ bề trên kể lại đã nói với tôi: Một ngày xuân, vài cụ ở hai làng (Hành Lạc - Hưng Yên và làng Vân - Bắc Ninh) đi hàng chục cây số đến với nhau tổ chức một cuộc thi rượu. Thực hư, thắng thua ra sao, xin không đề cập đến. Chỉ biết rằng như vậy rượu Hành Lạc từng ngang ngửa với một thứ rượu đã thành thương hiệu lừng danh.
Rượu Hành Lạc, một thứ rượu đựng chai nút bằng lá chuối, chế biến theo kiểu thủ công. Gạo nếp cái nấu chín, tãi mỏng ra nong hoặc nia, chờ đến khi nguội được rắc bằng một thứ men gia truyền rồi bốc vào thúng đặt lên trên chiếc thau. Khi nào một thứ nước vàng vàng sền sệt chảy xuống gần đầy thau thì trộn cả nước lẫn cái vào chum sành, cho thêm nước vừa ngập, bịt kín. Chừng hai lăm đến ba mươi ngày mới đem ra chưng cất. Dụng cụ chưng cất gồm nồi đồng, một cái chõ khoét đáy bằng đất nung cốt để hơi thoát lên, gặp thau nước lạnh trên miệng chõ đọng thành giọt nhỏ xuống một cái máng (rùa) làm bằng gỗ sung đặt trong lòng chõ rồi theo một đường ống thoát ra ngoài thành rượu.
Cách đây vài năm, một ngày sau tết, tôi có anh bạn đến chơi nhà. Không khí xuân vẫn còn vương vất đâu đó. Tôi lấy chai rượu ngoại mà con tôi tận Sài Gòn gửi về ngày tết. Đang loay hoay chưa biết cách mở thì anh bạn giơ tay ngăn lại:
Ngày xuân phải uống rượu quê mới đúng nghĩa.
Tôi đứng dậy, với lên bàn thờ, lấy chai rượu nút bằng lá chuối. Mới nhìn anh bạn đã tấm tắc khen:
Rượu trong quá!
Tôi mở nút, rót rượu ra chén thì anh bạn reo lên:
Thơm quá! Đúng hương nếp cái đồng chiêm.
Thay cho lời chúc đầu năm bằng tiếng “cạch”, cả hai cùng đưa chén rượu lên môi.
Chà! Ngon tuyệt.
Mới nhấp một hai hớp mà ai cũng thấy mạch máu như được giãn ra. Trong người có cái gì vừa rạo rực, vừa thôi thúc. Anh bạn reo lên:
Rượu Hành Lạc!
Rồi tiếp tục thao thao:
Tài thật! Rượu quê hội tụ tất cả những tinh hoa trời đất. Rượu cho mắt ta thấy sự trong suốt đến tinh khiết, cho mũi ta cảm được hương vị đầm ấm đồng quê, cho lưỡi ta tiếp nhận cả hai cảm giác từ mắt và mũi mang lại. Thật chả thể đánh lừa!
Câu phương ngôn: “Bầu rượu túi thơ” chắc cũng được người xưa đúc kết từ những cuộc gặp gỡ uống rượu như vậy. Khi đã ngà ngà, anh bạn tôi cao hứng ứng khẩu mấy câu thơ:
Rượu Hành Lạc hương nếp say nghiêng quán/ Nhãn Hưng Yên ngọt lịm mật dính môi/ Cánh làng thơ mấy ông đi tìm bạn/ Nợ văn chương trả mãi nợ không vơi.
Người trong nhà xúm đến nghe chúng tôi cao hứng. Như sợ mọi người cho là say, anh bạn tôi lại mượn hai câu thơ của thi sĩ Tản Đà, chữa thẹn: Đất say, đất cũng lăn quay/ Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười. Rồi anh lấy tay vỗ mạnh vào đùi: Tài thật! Cụ Tản Đà tài thật!