Nguyễn Văn Chiến
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Hưng Yên
1. Về lịch sử tên gọi Phố Hiến
Từ lâu, câu ca “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến” đã minh chứng, khẳng định cho vị thế của thương cảng nổi tiếng nhất ở Đàng Ngoài. Mặc dù, tên gọi Phố Hiến đã quen thuộc với đa số người dân Việt Nam nhưng không mấy ai biết đến sự ra đời và thay đổi tên gọi Phố Hiến diễn ra như thế nào? Phố Hiến có bao nhiêu phố, phường? Suốt nhiều năm qua, câu hỏi này đã trở thành tâm điểm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu về Phố Hiến trong và ngoài nước.
Theo các nhà nghiên cứu nước ngoài thì Phố Hiến ra đời khá muộn, G.Dumoutier cho rằng, với việc thương nhân Hà Lan đặt thương điếm ở đây vào năm 1637 Phố Hiến mới ra đời. Quan điểm này cũng được A.Shreiner tác giả của Lược sử Annam tán đồng. Kim Vĩnh Kiện một nhà nghiên cứu về ngoại thương của Trung Quốc cũng đồng tình và cho rằng Phố Hiến ra đời không sớm hơn năm 1663 là năm chúa Trịnh dồn dân Hoa Kiều về khu vực riêng.
Thực chất, Phố Hiến đã xuất hiện và phát triển thành cảng sông từ sớm hơn thời gian mà các nhà nghiên cứu nước ngoài nhận định rất nhiều. Ngược dòng lịch sử, chúng ta có thể thấy, ngay từ thế kỷ X Phố Hiến đã manh nha phát triển thành trung tâm buôn bán khi Tướng quân Phạm Phòng Át chọn nơi đây làm thủ phủ cát cứ. Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Bính Dần, năm thứ 16 [966], (Tống Càn Đức năm thứ 4). Nam Tấn [Vương] mất, các hung trưởng đua nhau nổi dậy chiếm cứ quận ấp để tự giữ... Phạm Bạch Hổ (xưng là Phạm Phòng Át) chiếm Đằng Châu...”[1]. Tuy nhiên, thời gian này vùng đất đô hội sau Kinh kỳ vẫn chưa được định danh bằng tên Phố Hiến mà được gọi với tên Đằng Châu.
Đến đời Lý, một địa danh mang tên Cư Liên được nhắc tới trong Đại Việt Sử Ký toàn thư: "Vào năm 1069, vua Lý Thánh Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành không được phải rút về; nhưng khi đến châu Cư Liên, nghe tin Nguyên phi Ỷ Lan thay vua ở nhà coi việc triều đình rất nghiêm, bèn trở lại chiến trường và đã thắng được quân giặc”[2]. Trong Phương Đình dư địa chí Nguyễn Văn Siêu viết: “Vua Lê Đại Hành lấy sông Càn Đà huyện Cư Liên phong cho con là Kính làm thực ấp, nay trong các xã An Chiểu, Thiện Phiến, Triều Dương có một đoạn sông cạn, tức là sông Càn Đà cũ”. Hiện nay, cửa sông Càn Đà nằm ở vị trí phường Hồng Châu thành phố Hưng Yên. Vì thế, rất có thể địa danh Cư Liên mà Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại là tên gọi của vùng đất Phố Hiến thời đó.
Sang thế kỷ XIII, dưới triều Trần, Phố Hiến đã có bước chuyển mình tạo đà cho ngoại thương phát triển khi những người Hoa lánh nạn giặc Nguyên sang đây thành lập nên làng Hoa Dương và những người Việt từ các địa phương khác cũng lần lượt đổ về buôn bán, sinh sống trên mảnh đất này. Khi đó, người ta vẫn còn biết đến một Phố Hiến với tên gọi Xích Đằng.
Sang đến thế kỷ XVI, một danh xưng mới cho Phố Hiến bắt đầu xuất hiện, đó là Vạn Lai Triều và danh xưng này tồn tại một thời gian khá dài. Đại Nam nhất thống chí có chép như sau: “Phàm người nước ngoài đến buôn bán ở đây thì gọi là Vạn Lai Triều, phong vật phồn thịnh, nhà ngói nhu bát úp". Trên bia Đỉnh kiến Tả đô đốc Thiếu bảo Tước quận công tặng Thái bảo Anh Linh vương Lê công từ bi ký, khắc năm Bảo Thái thứ 4 (1723). Người soạn văn bia là Trần Đế Đào (quê huyện Tấn Giang tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) nguyên là tàu trưởng tàu Hải Nam đến cư trú ở Vạn Lai Triều có ghi: “Về chỗ tàu thuyền ra vào tấp nập thì Vạn Lai Triều là nơi thuyền buôn dừng đậu, người Bắc quốc sang buôn bán đến nay đã mấy chục năm được an cư lạc nghiệp, không kể xa gần đều vui đến quần tụ nơi đây”.
Vạn Lai Triều là tên gọi quen thuộc đầu tiên dùng để chỉ cho vùng đất Phố Hiến mà sử sách còn ghi lại; ngoài sử sách, chúng ta có thể gặp địa danh Vạn Lai Triều trong văn thơ như:
Bến Nễ Độ gió nâng buồm gấm
Phố Bắc Hòa nguyệt ngắm rèm thưa
Thủ đô hội trong ngoài chẳng thiếu
Vạn Lai Triều là tiểu kinh đô.
Ngoài tên gọi Vạn Lai Triều, chúng ta còn gặp một tên gọi quen thuộc thứ hai nữa là Hiến Nam dùng để chỉ cho vùng đất Phố Hiến xưa. Năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625), trên bia đá chùa Hiến mặt bia Thiên ứng tự bi ký có chép về sự sầm uất của vùng đất Hiến Nam khi đó như sau: “Hiến Nam danh thị tứ phương tiểu Tràng An dã” (Hiến Nam nổi tiếng là nơi tiểu Tràng An của bốn phương tụ hội). Với việc định danh cho khu Tiểu Tràng An này, chúng ta có thể bác bỏ ý kiến cho rằng Phố Hiến ra đời sau 1637. Đại Nam nhất thống chí, phần ghi về chợ và phố cũng có đoạn chép: “ Đời Lê, Vạn Lai Triều và dinh Hiến Nam đều ở đây; hai phố này nhà ngói như bát úp”. Như thế, đời Lê, hai danh xưng đã được ghi lại trong Đại Nam nhất thống chí là Vạn Lai triều và Hiến Nam để chỉ cho Phố Hiến.
Khoảng năm 1637, Phố Hiến còn có một tên gọi khác là Phố Khách. Trong tác phẩm của mình, G.Domoutier có viết “Harsink không xin mở được thương điếm ở Thăng Long nên đành xuôi xuống Phố Khách lập một thương điểm cho công ty Đông Ấn Hà Lan và thương điểm này nhanh chóng làm ăn thinh vượng”. Như vậy, thời gian ấy Phố Hiến được người nước ngoài quen gọi bằng tên Phố Khách (tức là phố của người Hoa) vì người Hoa đã sinh sống rất đông đúc ở đây.
Khoảng cuối thế kỷ XVII, Phố Hiến đã được các sử gia gọi bằng một danh từ khá gần gũi với cách gọi của người dân bản địa lúc đó là Hiến Nội. Trong An Nam kỉ du, Phan Đỉnh Khuê có viết: “Mùa đông năm thứ 27 đời Khang Hy (1688)... ba ngày là tàu đi từ Hiền Nội tới kinh thành”. Như thế Hiến Nội là danh xưng thứ ba của Phố Hiến, và danh: Hiến Nội không chỉ xuất hiện trong sách sử mà chúng ta còn thấy xuất khá nhiều trong thơ, phú. Ở bài là A Phủ đi Hoa Dương hoài cổ, ngay câu mở đầu, Phạm Đình Hổ có viết:
Tự thiếu tằng văn Hiến Nội hảo
Ti lai Hiến Nội quá điêu hao
Có nghĩa:
Từ nhỏ từng nghe Hiến Nội rất đẹp
Đến nay Hiến Nội quá điêu tàn, sa sút
Còn trong Nguyệt Hồ phú, Lê Cù không chỉ nói đến danh xưng Hiến Nội mà ông còn nhắc lại danh xưng Hiến Nam từng vang bóng một thời trong tiềm thức của người dân bản địa:
Dấu Đằng Giang còn nức tiếng sứ quân
Chữ Hiến Nội hãy ghi lời bác Khách
Và câu:
Đền phủ Khoái chín bậc nhì danh thắng
Cảnh Hiến Nam giành đệ nhất phong quang
Ngoài việc nhắc đến địa danh là Hiến Nội trong tác phẩm An Nam kỉ du, Phan Đỉnh Khuê còn ghi lại Phố Hiến bằng một tên gọi khác là phố Thiên Triều, và tên gọi phố Thiên Triều cũng là một danh xưng chỉ về vùng đất Phố Hiến phồn thịnh.
Vào khoảng năm 1709 Phố Hiến có một tên gọi nữa là Hiến Doanh, trên bia chùa Chuông mặt ghi Nhân Dục xã, cổ tích truyện có ghi về địa danh Hiến Doanh, còn trong Trịnh gia phả kí cũng có một bài thơ Nôm do Gia Quận công từng làm trấn thủ Sơn Nam viết dâng chúa Trịnh có đoạn như sau:
Vâng mệnh Sơn Nam trấn Hiến Doanh
Khổn thần tưởng vọng lấy lòng thành
Song mai hiệu đặt vài bàn thiếc
Tứ quý danh xưng bốn bức tranh
Đến năm 1717, khi vẽ bản đồ về địa danh Phố Hiến Robert đã dùng danh từ Hean để chỉ cho vị trí thương cảng nổi tiếng ở Đàng Ngoài này. Như thế, danh từ Hean cũng được người phương Tây dùng để chỉ cho thương cảng Phố Hiến.
Sang triều Nguyễn, Phố Hiến đã được định danh bằng tên gọi của tỉnh khi vua Minh Mệnh cho thành lập tỉnh Hưng Yên vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831). Từ đó, tên gọi Phố Hiến không còn được biết đến như một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh và cũng không còn được sử dụng để ghi trong các công văn hành chính đương thời. Lịch sử sang trang, sông Hồng đổi dòng, Phố Hiến mất dần vị thế của một thương cảng. Tên gọi Phố Hiến chỉ xuất hiện lại là đơn vị hành chính, thủ phủ của tỉnh Hưng Yên vào ngày 12-5-1950 khi Đổng lý văn phòng Thủ hiến Bắc Việt Vũ Quý Mão ký Nghị định số 1979 THP-ND thành quận Phố Hiến trực thuộc tỉnh Hưng Yên, quận Phố Hiến khi đó trở thành một đơn vị hành chính, thủ phủ của tỉnh Hưng Yên do thực dân Pháp cai quản.
Tuy nhiên, trước thời Pháp thuộc, chúng ta chưa thấy tác phẩm nào ghi danh hai từ Phố Hiến riêng biệt mà danh từ này chỉ được dân gian quen gọi mà thôi. Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi là vì sao cảng sông sầm uất nhất Đàng Ngoài vào những năm của thế kỷ XVI – XVII lại có tên gọi Phố Hiến như thế? Theo chúng tôi, cảng sông này có tên đó vì những lý do sau:
Thứ nhất: trong các sách sử và thơ, phú của tác giả trong nước và châu Á khi ghi lại địa danh cảng sông này, họ tập trung vào ba danh từ chủ yếu sau: Hiến Nam, Hiến Doanh, Hiến Nội.
Thứ hai: khu vực này là nơi đặt lị sở của Ti Hiến (tên đầy đủ là Hiến sát sứ ti, một trong "Tam ti" quản lý cấp trấn thời Lê) đặt ở xã Nhân Dục, trấn Sơn Nam, cơ quan hành chính của toàn trấn.
Thứ ba: sau khi người phương Tây đặt chân đến Phố Hiến, họ đã dùng chữ viết để ghi lại tên cảng sông này bằng những kí tự (Hean).
Từ mấy yếu tố trên ta thấy, mỗi danh xưng của các tên gọi trên đều chung một từ Hiến. Vì cùng có một danh xưng Hiến như vậy nên dân gian rất có thể đã gọi cảng sông này là Phố Hiến vì thế.
2. Về các phố, phường của Phố Hiến
Phố Hiến được biết đến là Tiểu Tràng An, thương cảng lớn của Đàng Ngoài, nơi giao thoa nhiều nền văn hóa Âu - Á khác nhau; một đô thị kinh tế, bao gồm một bến cảng sông; tập hợp chợ; khu phường phố... Câu ca “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến” đã chứng minh về sự tương quan quy mô khi đó; theo tác giả Trương Hữu Quýnh thì Phố Hiến từng có 20 phường[3]. Như vậy so với 36 phố, phường ở Kinh kỳ thì Phố Hiến khi đó cũng có hơn 20 phố, phường. Trong bài viết Phố Hiến không chỉ có 20 phường[4], qua tư liệu văn bia tại Khu di tích Phố Hiến (chùa Chuông và chùa Hiến), tác giả cũng từng cho rằng Phố Hiến có 23 phường. Tuy nhiên, sau khi tiếp cận toàn bộ hệ thống văn bia của Phố Hiến thì con số 23 không phải con số cuối cùng. Cụ thể có thể kể đến các phường như sau: (1) Phường Hàng Bè (Hàng Bè phường); (2) Phường Đê Cũ (Cựu Đô thị); (3) Phường Ngoài Đê (Ngoại Đô thị); (4) Phường Trong Đê (Thủy Đê nội thị); (5) Phường Bia Hậu (Hậu Bi thị); (6) Phường Cửa Sông (Hà Khẩu thị); (7) Phường Trong Sông (Thủy Giang nội thị); (8) Phường Ngoài Sông (Thủy Giang ngoại thị); (9) Phường Hàng Thịt (Hàng Nhục phường); (10) Phường Vạn Mới (Vạn Mới thị); (11) Phường Hàng Sũ (Hàng Sũ phường); (12) Phường Nồi Đất (Thổ Oa thị); (13) Phường Hàng Cau (Mộc Lang phường); (14) Phường Hàng Chén (Hàng Chén thị); (15) Phường Hàng Cá (Hàng Cá phường); (16) Phường Thuộc Da (Thuộc Bì thị); (17) Phường Hàng Nón (Hoa Lạp thị); (18) Phường Hàng Sơn (Hàng Sơn phường); (19) Phường Cửa Cái (Cửa Cái phường); (20) Phường Thợ Nhuộm (Nhiễm Tác phường); (21) Phường Hàng Giường (Hàng Giường thị), (22) Phường Hiến Doanh (Hiến Doanh thị); (23) Phường Phú Lộc (Phú Lộc phường); (24) Phường Phúc Lộc (Phúc Lộc phường); (25) Phường Vạn Đô (Vạn Đò phường).
Trên bia đá Trần Vương cung tiến bi ký đã ghi lại tên các phố cung tiến để xây dựng đền Trần, gồm các phố: (1) phố Nguyệt Hồ, (2) phố Bắc Hòa (3) phố Tân Thị, (4) phố Hậu Trường, (5) phố Tân Khai, (6) phố Tiền Miếu, (7) phố An Nhân, (8) phố Hữu Môn, (9) phố Cửa Trường, (10) phố An Vũ, (11) phố Bắc Môn.
Trong 25 phường có đến 10 phường làm nghề thủ công như: Thuộc Da, Hàng Nón, Hàng Bè, Hàng Đinh, Hàng Nồi, Hàng Chén, Hàng Sũ, Thợ Nhuộm, Hàng Sơn, Hàng Giường. Tên phố ở đây gắn liền với phố buôn bán. So với 36 phố, phường của kinh thành Thăng Long, 25 phường và 11 phố ở Phố Hiến là một con số không nhỏ, thể hiện sự sầm uất trong thương mại và sản xuất thủ công ở Phố Hiến thời gian này.
3. Về nhân vật đóng góp cho sự phát triển của Phố Hiến
Từ trước đến nay, khi nhắc đến quá trình phát triển Phố Hiến hầu như đa số các nhà nghiên cứu đều nghĩ ngay đến Trấn thủ Sơn Nam Lê Đình Kiên (1621 - 1704) người Thanh Hóa là nhân vật đã đặt nền móng cho sự thịnh vượng của Phố Hiến, điều đó không sai nhưng cũng chưa hoàn toàn đúng hết, ông chỉ là người tiếp nối trong khoảng thời gian hưng thịnh nhất của Phố Hiến. Thời kỳ phồn thịnh nhất của Phố Hiến là vào khoảng giữa thế kỷ XVII (1630-1680), kéo dài 50 năm, nhưng phải đến năm 1664 ông mới vâng lệnh triều đình ra làm Trấn thủ trấn Sơn Nam. Tuy nhiên ông đã giữ cương vị này suốt 40 năm, từ năm 1664 - 1704 nên công lao của ông đối với xứ này rất nhiều và đáng được ca ngợi “Giáp Thân, [Chính Hòa], năm thứ 25 (1704)...Mùa xuân, tháng hai, Trấn thủ Sơn Nam Thiếu bảo Quận công Lê Đình Kiên mất. Đình Kiên làm Nội thị trong cung cấm, nhiều lần theo (chúa Trịnh) đi chinh phạt, có công lao, ở trấn (Sơn Nam) trước sau đến 40 năm. Ông làm việc chính sự chuộng nghiêm khắc, cứng rắn, (vì vậy) trộm cướp nằm im không dám hoạt động. Kiên nổi tiếng về cai trị. Đến đây chết, 82 tuổi, truy tặng Thái bảo, truy phong là phúc thần”[5]. Tuy nhiên, trước khi Lê Đình Kiên về trấn thủ Trấn Sơn Nam thì vùng đất Phố Hiến đã hưng thịnh trước đó 14 năm. Vậy trước Lê Đình Kiên, nhân vật góp phần làm hưng thịnh Phố Hiến khi ấy là ai? Câu trả lời là Nguyễn Sủng, còn gọi là Nguyễn Trù, tên chữ là Tụy Tụy Lão, sinh ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân 1608, mất ngày 30 tháng 10 năm Canh Thân 1680, người làng Vân Điềm, huyện Đông Ngàn, sau là xã Vân Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội, nay là xã Thư Lâm, Hà Nội. Ông là cháu nội của Tể tướng Nguyễn Thực (1554-1637) thời Lê Thần Tông; con trưởng của Tham tụng[6] Nguyễn Nghi (1588-1607) của Phủ chúa Trịnh. Ông thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Lý, là cháu đời thứ 12 của Nghĩa Nam Vương Lý Hưng Tích (là con thứ ba của vua Thánh Tông hoàng đế Lý Nhật Tông).
Trong sách “Vân Điềm Du Lâm Nguyễn tộc hợp phả”[7] Hoàng Giáp Nguyễn Tư Giản đã tóm lược sự nghiệp của ông Nguyễn Sủng như sau “Năm Dương Hòa thứ 8 (1642), Nhâm Ngọ, ông được bổ chức Hình bộ ti vụ. Năm Ất Dậu niên hiệu Phúc Thái 3 (1645) thăng Hộ bộ Viên ngoại lang[8]. Lại vì cha ông là bậc Quận công, ấm gia ban Triều liệt đại phu[9]. Năm thứ 4, Bính Tuất (1646) thăng chức Hiến sát sứ ti Hiến phó sứ xứ Hải Dương. Năm thứ 6, Mậu Tí, chúa Trịnh vì thấy ông là bậc đức hạnh, văn chương ưu tú đặc chuyện nội chức, dạy học cho các con của Chúa, lại được gia tặng Kim tử vinh lộc đại phu, ban tước Xuân Phong tử”. Qua đây, chúng ta thấy, năm 1646 ông đã được thăng chức Hiến sát sứ Ti Hiến, khi đó Ti Hiến đặt ở xã Nhân Dục, Trấn Sơn Nam, trung tâm của Phố Hiến; Hiến ti là cơ quan thực hiện cả chức năng tư pháp và hành pháp, có nhiệm vụ tố giác việc làm sai trái hay vi phạm pháp luật của các quan trọng trong địa hạt, kiểm tra việc xét kiện tụng, đi các địa phương, điều tra, giải quyết oan ức của nhân dân, nên việc ông về nhậm chức ở Hiến ti ngay lập tức đã có tác động không nhỏ đến sự thịnh vượng của Phố Hiến, trong đó nổi bật nhất là tạo điều kiện và thúc đẩy cho các thương nhân nước ngoài được tự do đi đến các vùng quê buôn bán và mua hàng; những thương nhân này đã góp phần đáng kể vào việc biến một khu chợ thành một đô thị chỉ đứng sau Kinh kỳ. Điều quan trọng hơn là việc họ đã tản đi khắp các thị thành, xóm thôn mua hàng, đặt hàng tạo nên một thương trường sôi động. Nhiều học giả cho rằng cũng đồng tình việc các thương nhân nước ngoài ở đây và tự do buôn bán đã tạo nên "một cuộc cách mạng thương nghiệp thế kỷ XVII ở nước ta". Chính điều đó đã là một minh chứng sống động cho những đóng góp của Nguyễn Sủng trong việc dựng nên một Thương cảng Phố Hiến phồn thịnh.
Trải qua nhiều thăng trầm, đặc biệt là khi sông Hồng bắt đầu bị xói lở ở đoạn chảy qua bến cảng đã khiến Phố Hiến ngày càng cách xa dòng sông, thuyền bè nước ngoài không thể ghé bến nên không còn cảnh bán buôn nhộn nhịp. Năm 1741, trấn Sơn Nam được tách thành Sơn Nam thượng và hạ, trung tâm chính trị đã chuyển xuống Vị Hoàng (Nam Định). Cũng trong thế kỷ XVIII, nhiều biến động xã hội - chính trị đã diễn ra tại địa bàn Phố Hiến. Năm 1730, đê Mạn Trù vỡ, dân chúng nhiều vùng ở Sơn Nam trở nên nghèo đói, phải tha phương cầu thực. Tiếp đến là những cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất và Nguyễn Hữu Cầu đã tàn phá vùng này, càng làm cho tiềm lực kinh tế của Phố Hiến kiệt quệ. Phố Hiến - thương cảng sầm uất ngày nào dần mất đi vị trí giao thương quan trọng rồi rơi vào quên lãng.
Trên đây là những nét sơ lược nhất về quá trình thay đổi và đan xen tên gọi của cảng sông Phố Hiến trong từng giai đoạn lịch sử, cũng như sự tồn tại từng có của các phố, phường ở thương cảng Phố Hiến xưa và gương mặt thời kỳ đầu xây dựng Phố Hiến. Mặc dù, tên gọi Phố Hiến không còn tồn tại như một đơn vị hành chính của tỉnh và không được dùng trong các văn bản hành chính thời cổ. Đồng thời, các phố, phường xưa cũng không còn tồn tại đến nay; chỉ rất ít dấu tích được nhắc đến gợi nhớ về các phố, phường từng tồn tại ở nơi này. Lịch sử đã sang trang nhưng danh xưng Phố Hiến vẫn mãi là niềm tự hào của người Hưng Yên nói riêng và người dân Đàng Ngoài nói chung.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, Hà Nội 1991.
2. Việt sử thông giám cương mục, Nxb Sử học, Hà Nội 1960. 3. Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí (Dư địa chí), Hà Nội 1960,
4. Đại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hóa, 1993.
5. Hưng Yên tỉnh nhất thống chí, chữ Hán.
6. Kỷ yếu hội thảo Phố Hiến, Nxb KHXH, 1993
7. Nguyễn Phúc Lai. Danh nhân Hưng Yên, Nxb VHTT, 2001
8. Nguyễn Văn Siêu. Phương Đình dư địa chí, Nxb VHTT, 2001
9. Về Phố Khách ở Hưng Yên xứ Bắc Kỳ thuộc Đông Pháp, Tokyo 1939
10. William Dampier: Vovages and discoverics
11. Dumoutier G. Les comptoirs Hollandais de Pho Hien ou Pho Khach près Hung Yen (Tonkin) au XVIIe siècles, BGHD 1895
12. Thành Thế Vỹ. Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX, Nxb Sử học, Hà Nội 1981.
[1] Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, HN.1993. tr 57,58 Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, HN.1993.tr 107
[2] Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, HN.1993.tr 107
[3] Trương Hữu Quýnh, Sự ra đời và phát triển của Phố Hiến, Phố Hiến, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Sở Văn hóa, Thông tin, Thể thao Hải Hưng. 1994
[4] Nguyễn Văn Chiến, Phố Hiến không chỉ có 20 phường, Tạp chí Xưa và Nay, số 147. Tháng 9/2003
[5] Đại Việt sử ký toàn thư, phần Bản kỷ tục biên (1676 - 1 740)
[6] Chức vị như Tể tướng
[7] NXb Thế Giới, Hà Nội tháng 11/2025
[8] Viên ngoại lang: Chức quan có từ thời Trần. Trong Môn hạ sảnh đặt Lang trung Viên ngoại lang làm Phó chức. Thượng thư sảnh cũng có Lang trung làm Chánh ty và Viên ngoại lang làm Phó giữ việc vâng lệnh chỉ của Thượng hoàng. Quan chế thời Hồng Đức cho Viện ngoại lang trật Tòng lục phẩm. Quan chế Bảo Thái cũng vậy.
[9] Triều liệt đại phu: Danh hiệu Tản quan bên văn do nước Kim khởi đặt, trật Tòng Ngũ phẩm hạ. Thời Nguyên thăng lên Tòng tứ phẩm. Thời Minh khi sơ thụ trật Tòng tứ phẩm.