Trở về

 

                                                                                      Truyện ngắn Dương Thị Cẩm

 

Nghe tin bà Minh mất, họ hàng, làng xóm kéo đến rất đông, vừa là để thăm hỏi, chia buồn, xem gia chủ có việc gì thì giúp, vừa là để xem cậu Lành, con trai út của bà Minh có về không?

          Từ lúc biết vợ mất, ông Minh ngồi lặng trong nhà, chẳng nói chẳng rằng, mặc cho thằng cháu trưởng cắt đặt công việc, mặc cho con dâu, con gái đón chào khách.

          Vẫn biết sinh, lão, bệnh, tử là quy luật của tạo hóa, không ai có thể cưỡng lại được. Nhưng ông Minh vẫn thấy ngỡ ngàng, không tin nổi đây là sự thật. Mới hôm qua thôi, bà Minh vẫn còn cơm nước, quét dọn nhà cửa gọn gàng đâu vào đấy. Ai  cũng bảo ở tuổi 90, ông bà vẫn còn minh mẫn, khỏe mạnh, tự chăm sóc lẫn nhau thật là quý hóa. Vậy mà, hôm nay, bà đã bỏ ông lại một mình trên thế gian này.

          Bà Minh về làm dâu nhà ông từ năm 13 tuổi. Ông hơn bà 3 tuổi. Ông tuổi Thìn, bà tuổi Mùi. Theo quan niệm phương Đông, tuổi ông và bà xung khắc, Thìn Tuất, Sửu, Mùi thuộc tứ hành xung. Nhiều người bảo 2 tuổi này, không thể ở với nhau lâu dài được. Nhưng kệ, bố mẹ ông vẫn nhất quyết cưới bà cho ông vì bà vừa xinh xắn, lại vừa khỏe mạnh, giỏi giang. Nhà ông đã 3 đời độc đinh, mà ông lại đi theo Cách mạng, làm “Việt Minh”, thì cần phải có người trông nom, quán xuyến nhà cửa, vườn tược. Ấy vậy mà, gần 80 năm làm bạn với nhau, ông bà chưa hề to tiếng, cãi vã nhau bao giờ. Trong thâm tâm, ông vẫn thầm cảm ơn bà. Việc nhà, việc họ hàng, làng xóm, chăm nom bố mẹ, nuôi dạy con cái, một tay bà lo toan, gánh vác, không hề kêu ca, than vãn nửa lời.

          Càng nghĩ, ông Minh càng thương cảm với bà. Dân gian có câu: lấy chồng từ thuở 13/đến năm 18 thiếp đà 5 con. Thế nhưng, sau hơn chục năm làm vợ, bà mới được làm mẹ. Khi sinh cô con gái đầu lòng, bà đã phải chịu nhiều đắng cay, tủi nhục. Bố mẹ ông mong mỏi có thắng cháu đích tôn để nối dõi tông đường, nay thấy bà  đẻ ra “con vịt giời”, liền xỉ vả, mắng nhiếc bà là đồ ăn hại, có mỗi việc đẻ mà cũng không xong, đến phải cưới cho ông vợ khác …. Bà tủi thân, uất hận, nên sinh bệnh hậu sản mòn. Ông Minh phải xin nghỉ cả tháng để chăm nom bà, động viên bố mẹ. Đận ấy, cứ tưởng bà không qua được, bỏ ông và cô con gái còn đỏ hỏn mà đi. Vậy mà nhờ giời, bà hồi sức dần, sòn sòn 3 năm đôi,đẻ cho ông 2 thằng cu. Thế là nhà ông thoát khỏi tiếng “độc đinh”. Nếu Nhà nước không có chính sách sinh đẻ kế hoạch, chắc ông bà phải có đến tá con.

          Tuy là người ít chữ, nhưng bố mẹ ông cũng rất kén chọn trong việc đặt tên cho các cháu. Theo các cụ, cái tên đẹp, có ý nghĩa sẽ mang lại sự may mắn, giầu sang, phú quý. Vì vậy 3 đứa con của ông Minh được ông bà nội lần lượt đặt tên là Bình, An, Lành.

          Thấm thoắt ngày tháng thoi đưa, bố mẹ ông đưa nhau về cõi vĩnh hằng, để lại bà Minh và 3 đứa con trong căn nhà trống huơ trống hoác. Nhờ vào mấy sào vườn, vào sự đảm đang, chịu thương chịu khó, bà Minh nuôi dạy các con nên người, phương trưởng. Trừ có Bình là chức tước tàm tạm, còn An và Lành tuy chưa được “người đưa, kẻ đón”, nhưng cũng thuộc hàng “nói có người nghe, đe có kẻ sợ”.

          Ông Minh về hưu ở tuôi 55, mang quân hàm đại tá. Ngày đó, lương đại tá cũng chẳng được là bao, nhưng cũng đủ để ông bà trang trải cuộc sống, không phải nhờ đến con cháu. Khi Nhà nước có chính sách ưu đãi người có công, vì là cán bộ tiền khởi nghĩa, nên ông được hỗ trợ 50 triệu. Cầm món tiền lớn trong tay, ông  bàn với bà mua một khoảnh đất ở phía trong đê để tiện cho đi lại khi mùa nước lên.

          Nghe chồng bàn, bà Minh đồng ý luôn. Bởi nhà bà ở ngoài đê, đất đai rộng rãi, thoáng mát, mùa nào thứ nấy, phải mỗitội đến mùa nướcđi lại vất vả. Năm nào cũng vậy, từ tháng 5 đến tháng 9, tháng 10, muốn ra khỏi nhà mọi người trong làng đều phải dùng thuyền. Nước cạn không đi thuyền được phải lội bì bõm. Nhà bà lại ở sâu trong ngõ, từ đường vào nhà dễ có tới hơn 300m. Có lần đi chợ về, bà sơ ý trượt chân sa xuống ao, may mà có người nhìn thấy kéo lên, nếu không thì… Nước nôi thế này, con cháu muốn về thăm ông bà, nhưng thuyền bè đi lại nhiêu khê nên chúng ngại. Nhỡ có ốm đau, đi viện hay nhờ người thăm khám cũng tiện. Nghĩ vậy, bà liền giục ông tìm mua nhà, mua đất.

          Theo tục lệ ở quê ông, con gái đi lấy chồng không được thừa kế tài sản của cha mẹ. Ông   2 người con trai, đều có nhà riêng, tuy không khang trang, bề thế nhưng hơn khối người. Nghĩ mình đã ngoài 80, ở cái tuổi xưa nay hiếm, ông bàn với bà, khi còn minh mẫn thì chia tài sản cho các con, gọi là lộc của cha mẹ để lại. Ông bảo: Cái nhà tôi với bà đang ở, sau này mình khuất núi để làm nhà thờ, giao cho thằng An, còn vườn tược chia cho nó. Cái nhà và mảnh vườn phía trong đê, cho thằng Lành. Con Bình không có gì, còn ít tiền đây, cho nó để nó đỡ tủi thân.Tiền lương hưu của tôi, tôi với bà chi tiêu là đủ, ốm đau đã có chúng lo. Ngộ nhỡ mình ra đi,tài sản không rõ ràng, anh em chúng nó bất hòa, tôi với bà nhắm mắt rồi cũng không yên. Ý bà thế nào?.

          Bà Minh suy nghĩ một lát rồi cũng thuận theo ý ông.

          Thế nhưng, giời lại chẳng chiều lòng ông bà, mấy năm liền, năm nào nước cũng ngập ngang trời. Ao chuôm những năm trước là đường thoát nước ra sông Cái thì nay bị lấp gần hết, nước ứ đọng, hễ mưa là ngập. Sau mấy ngày suy nghĩ, ông bảo bà:

          Chủ nhật này, bà làm cho tôi mâm cơm, bảo vợ chồng thằng An và thằng Lành về ăn.

          Cơm nước xong xuôi, ông bảo An và Lành:

          Trước bố bảo cho mỗi con một mảnh đất, nhưng mấy năm nay, đường về nhà ta lại thường ngập lụt. Anh An có 2 đứa con trai, còn Lành lại có 2 đứa con gái, bố muốn Lành cắt cho anh An một suất đất. Nghe vậy, Lành giẫy nẩy lên:

          Bố thật chẳng công bằng. Bố cho anh An những 5 sào, còn con chỉ có gần 500m2, bằng ¼ của anh ấy, nay bố lại bảo con cắt cho anh ấy 1 suất. Con đang định bán ngôi nhà ở trên phố, về xây biệt thự, con tính toán rồi, 500m2 đủ cho con cả nhà, vườn và ao. Con không chịu.

          Mặc cho ông Minh phân tích thiệt hơn, nhưng Lành nhất quyết không nghe, đỏ mặt tía tai cãi lại bố. An từ nãy vẫn ngồi im, thấy vậy liền lên tiếng:

          Thôi bố ạ, chú ấy không đồng ý thì thôi. Con không quan trọng về đất đai đâu, ăn hết nhiều chứ ở hết mấy.

          Lành đang bực, nghe anh nói vậy thì lại vặc sang An: Ở nhà này, chỉ có trưởng là nhất, thứ thì có là cái thá gì.

          An vốn hiền lành, ít nói, thấy Lành căng thẳng liền đứng lên giục vợ ra về.

          Bà Minh thấy vậy cũng lên tiếng dàn hòa: Con nó không đồng ý thì thôi, lúc khác ông hãy nói.

          Sau nhiều lần thương thuyết, Lành vẫn không nghe, đôi lúc nói năng hàm hồ, hỗn láo. Cha con ông đưa nhau ra tòa. Tòa xử cho ông thắng cuộc. Lành hận lắm, vừa bị mất 100m2 đất, lại vừa bị trượt chân phó giám đốc của 1 sở, mà nó lại đang nằm trong tầm tay của anh.

          Sau trận ấy, Lành từ mặt ông Minh, xin chuyển công tác, đưa cả vợ con đi tỉnh khác. Từ đó, cha con như người dưng. Hai tiếng quê hương chỉ còn trong ký ức của Lành. Bà Minh buồn bã cả năm trời, người rộc rạc, còn ông cũng không kém, nhưng bản lĩnh của người lính giúp ông đứng vững, làm chỗ dựa cho bà. Tưởng thoát khỏi tiếng “độc đinh”, nào ngờ…

          Tiếng kèn nỉ non khóc than hộ An và Lành kéo ông Minh trở về thực tại. Ông lật đật tìm cây gậy, ra chỗ thợ kèn bắt ngừng ngay lập tức. Ông bảo:Thằng An đi công tác ở nước ngoài không về kịp, đã có vợ con nó ở nhà. Thằng Lành nó bất hiếu, than khóc người ta cười cho. Hơn nữa làng, mình là Làng văn hóa, đã cấm thương vay, khóc mướn.

          Trời vần mưa rả rích. Trong nhà, ngoài sân ướt rượt. Từ lúc bà Minh nằm xuống, mưa lúc mau lúc nhạt không lúc nào ngớt. Phong, chồng Bình đến bên ông giọng khẽ khàng: Bố ạ, binh tình này con thấy không ổn, trời vần vũ thế kia, chắc đêm nay mưa cả đêm, ngày mai chẳng biết có tạnh không. Mưa từ sáng đến giờ, ngõ vào nhà mình nước ngập đến mắt cá chân, mai sẽ ngập sâu hơn. Nghĩa trang làng ta đất cát, nước ngập đất lở rất khó đào huyệt. Cậu An chắc không kịp nhìn mặt mẹ lần cuối, còn cậu Lành đến giờ vẫn không thấy tăm hơi đâu. Con cũng đã hỏi thầy rồi, sáng mai giờ cũng đẹp, đưa được mẹ con ra đồng, đừng để đến chiều bố ạ.

 Ông Minh ngồi thừ ra. Có lẽ ông trời cũng thương cảm cho hoàn cảnh của mình chăng? Lát sau ông bảo Phong: Con thấy thế nào thuận thì làm.

          Một tuần sau khi bà Minh mất, Lành và vợ con mới về, cũng chỉ ra mộ thắp hương rồi đi ngay. Dư âm về đám tang này phải đến hơn một tháng mới nhạt. Người thì bảo Lành là đứa con bất hiếu, nghĩa tử là nghĩa tận, có giận đến mấy cũng phải về chịu tang mẹ. Người thì nói rằng tại ông bà Minh mà sự nghiệp của Lành dang dở, công bao nhiêu năm phấn đấu, phút chốc đổ ra sông ra biển, Lành không oán hận sao được. Ai nói ông Minh đều biết hết, nhưng ông kệ, chẳng hé răng nữa lời.

          Nỗi buồn về sự ra đi đột ngột của vợ làm ông Minh không gượng nổi, ông ốm lay ốm lắt hơn một năm rồi cũng theo bà đi nốt. Cũng như lần trước, hết tuần đầu, Lành mới về, nhưng cũng chỉ ra mộ thắp hương rồi đi luôn.

Gần đến ngày giỗ đầu ông Minh, Lành đột ngột trở về. Nhờ sự dàn xếp khéo léo của ông chú có ơn với Lành, cuộc gặp mặt hôm đó có cả vợ chồng Bình, An.

Quỳ trước mặt các anh, chị, Lành nói trong nước mắt: Em biết em sai rồi, em có lỗi với các anh, các chị. Em xin các anh, các chị tha cho em.

          Lành vừa  dứt lời, Phong đứng phắt đậy, chỉ tay vào mặt Lành: Cậu có lỗi là lỗi với tổ tiên, với bố mẹ, chứ cậu chẳng có lỗi gì với chúng tôi. Tôi không dám. Tôi nhớ khi tôi về làm rể bố mẹ, cậu đang học đại học. Lần ấy, cậu về xin tiền, trong nhà không còn nổi bát gạo thì làm gì có tiền. Mà thực ra ở làng này, bữa ăn  chỉ có ngô khoai độn cơm chứlàm gì có cơm độn ngô khoai. Đêm hôm mưa rét, mẹ chống gậy đi mấy nhà mới vay được tiền cho cậu. Vậy mà cậu đối xử với bố mẹ thế nào?. Thật là vô ơn. Cậu có phải là người không nữa.

          Lành vẫn quỳ chịu trận không dám ho he. An liền bảo: Chú ngồi lên ghế này, có gì từ từ nói. Im lặng một lúc, Lành bắt đầu kể: Từ khi bố mất, em thường mơ thấy mẹ. Mẹ nhìn em không nói câu nào, nhưng em sợ ánh mắt của mẹ, nó buồn bã, trách móc. Đi làm hay đi chơi, em vẫn không thoát nổi ánh mắt ấy. Em suy nghĩ rất nhiều, nhận ra là mình đã sai. Hôm nay, em lấy hết can đảm mới về được đến đây. Em xin các anh, các chị!

          Phong lại đứng lên, vung tay định nói, nhưng An đã ấn anh ngồi xuống. Quay sang  Bình, An bảo: Ngày mai, chị và nhà em đi chợ, mua đồ ăn về làm mâm cơm, thắp hương bố mẹ, mừng chú Lành trở về.

 

 

                                                                                     

Người đăng: Nhà báo, Ths. Chu Huy Phương