thu thời
Lâu rồi tôi chưa có dịp về thăm quê. Quê tôi có dòng sông sứ thơ mộng ôm ấp lấy thôn dã, trước đây đặt tên là làng An Khang, nằm ở phía tây Tiền Hải (nay là xã Tiền Hải, tỉnh Hưng Yên).
Làng An Khang đã sinh ra những người con anh dũng, có tới hàng trung đoàn dám dấn thân vào chiến dịch Điện Biên Phủ và nằm lại chiến trường có tới gần nửa. Bởi vậy nhà nào cũng có bàn thờ, giữa là khung ảnh chân dung của các chiến sĩ tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Hai bên hai câu đối “Điện Biên truyền quốc sử - Chiến tích chấn địa cầu”, chữ được sơn son thiếp vàng đóng khung bản gỗ, nền đỏ trang trọng làm tôi nhớ lại những ngày còn là cậu bé quàng khăn đỏ ngày hai buổi cắp sách đến trường; Nhớ thầy cô và đặc biệt nhớ người cựu chiến binh già kể cho nghe về những trận đánh ác liệt ở chiến trường Điện Biên Phủ. Mỗi trận đánh, mỗi chiến sĩ là một câu chuyện cảm động, lắng đọng trong mỗi ký ức lớp trẻ. Với tôi lấy đó làm động lực vươn lên học tập, rèn luyện bản thân thành trò giỏi. Ông kể:
- Thời điểm đó, ông Nguyễn Ngọc Thát, quê Tiền Hải giữ chức A trưởng theo cách mạng từ năm 1951 được đào tạo là lính xung kích B41-C20-Sư 312. Ông cùng đồng đội đã đánh nhiều trận, san phẳng nhiều đồn bốt địch ở phía Đông đồng bằng Bắc Bộ. Tình hình chiến sự và sức mạnh của bộ đội Việt Minh lúc đó đang đà phát triển mạnh mẽ. Theo chỉ thị của mặt trận, các sư đoàn chủ lực nổi tiếng đánh đâu thắng đó như Sư 308 - 312 - 316 cùng các đội dân công hỏa tuyến của các tỉnh bí mật xuyên rừng mở lối như thác tiến về lòng chảo Điện Biên.
Tổng chỉ huy quân đội Pháp lúc đó tướng Navarre huênh hoang: Chỉ trong một năm Pháp sẽ đảo lộn tình thế chiến tranh ở Việt Nam. Bước đầu chúng đưa 34 tiểu đoàn pháo binh, thiết giáp hạng nặng yểm trợ; lập lại trật tự rồi đánh thẳng ra vùng tây nam Ninh Bình và dọc ven biển đồng bằng Bắc Bộ. Chúng tăng số quân tinh nhuệ, máy bay chiến đấu án ngữ vùng Tây Bắc nhằm bóp chết, tiêu diệt quân chủ lực của ta. Thực hiện ý đồ đó địch đã tập trung 21 tiểu đoàn bộ binh; 3 tiểu đoàn pháo binh; 1 đại đội xe tăng. Tổng con số lên đến 1 vạn 7 nghìn tên ở lòng chảo Điện Biên. Mỗi ngày liên tục bắn phá - quấy rối từ 170 đến 260 lượt chấn chỉnh xong quân số - chiến lược, Navare tuyên bố “Cứ điểm Điện Biên Phủ bất khả xâm phạm”.
Ngày 13 tháng 3 năm 1954 Hồ Chủ tịch phát lệnh tổng động viên “Mở đại cục tấn công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ”. Vâng lời người toàn dân đồng lòng lớp lớp người ra trận, tiếp chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, lương thực mỗi ngày ra mặt trận.
Ngày 11 tháng 3 năm 1954 những khẩu pháo cuối cùng quân ta đã vào vị trí. Cấp tập nã đạn vào các lô cốt hầm ngầm, công sự của giặc. Khắp chiến trường quân ta khí thế hừng hực quyết bắt sống tướng De Castries. Quyết chiến, quyết thắng trong trận lịch sử này. Đội trưởng đại đội 360 Tạ Quốc Luật dẫn đầu một tổ mũi nhọn gồm 5 chiến sĩ, hướng thẳng về mũi Sở chỉ huy giặc diệt từng ổ kháng cự của địch. Nhất là cuộc chiến đấu giành dật đồi A1 diễn ra vô cùng khốc liệt. Sau 4 lần tấn công mà quân ta không chiếm được chốt. Thương vong nặng nề. Rồi một mưu kế xuất thần cho khối bộc phát lớn điểm hỏa, sau khi bộc phá nổ bộ binh ồ ạt xông lên. Súng trường, tiểu liên, lựu đạn thi nhau nổ chát chúa, tiếp đánh giáp lá cà, bằng lưỡi lê dưới chiến hào. Máu của các chiến sĩ ta, máu của quân thù trộn trên lớp bùn nhão nhoét nên mới có: “Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi ngủ hầm/ Mưa dầm cơm vắt/ Máu trộn bùn non/ Gan không núng/ Chí không mòn”.
Ngày 30 tháng 3 năm 1954 quân ta tập trung tiêu diệt các cao điểm phía đông Mường Thanh. Trong suốt tháng tư, ta và địch giành giật từng tấc đất trên cao điểm quyết liệt, cuối cùng quân ta cũng cắt đứt đường hàng không của địch, tiêu diệt 23.000 tên địch. Tuy vậy, trên chiến trường địch vẫn còn trên 1 vạn có ưu thế về không quân. Từ 23 tháng 3 bỗng trời đổ mưa liên tiếp, ào ạt, xối xả gây khó khăn cho sự tấn công của ta.
Cuộc nói chuyện đã dài nhưng đến đoạn kết này ông phấn chấn hẳn lên, tưởng như tuổi già đã lùi xa, dành cho những năm tháng chân đồng da sắt trỗi dậy, giọng ông trở nên sang sảng, ông kể tiếp: Sáng ngày 01 tháng 5 năm 1954, quân ta đồng loạt tấn công ba hướng hướng Đông - Tây và Đông Bắc ào ào như vũ bão diệt nhiều cứ điểm quan trọng của địch. Đến 3 giờ chiều ngày 7 tháng 5, ta tổng công kích trên toàn mặt trận Điện Biên Phủ, đến 5 giờ 30 phút chiều toàn bộ quân địch khu trung tâm đã đầu hàng, chiến sĩ ta xông vào Sở Chỉ huy bắt sống tướng De Castries cùng toàn bộ chỉ huy của cứ điểm.
Tổng chiến dịch quân ta đã tiêu diệt và bắt sống 1 vạn 6 nghìn tên giặc, trong đó có hơn một nghìn tên bị thương.
Trong trận chiến lịch sử ấy có hàng ngàn con em người Tiền Hải, Hưng Yên chúng ta đóng góp rồi nằm lại nơi chiến địa khốc liệt ấy. Đó là dấu son và cũng là sự mất mát to lớn song nhiều người đã trưởng thành. Trong thôn An Khang có 2 đại tá; 3 thượng tá; 8 trung tá và còn các cấp sĩ quan ngã xuống.
Nhìn lên khung ảnh những chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, 56 ngày đêm ấy tôi lại nhớ câu thơ của Tố Hữu:
“Hỡi các chị, các anh/ Trên chiến trường ngã xuống/ Máu của anh chị, của chúng ta không uổng/ Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam”.
Từ những câu thơ cách mạng ấy. Chuyện người lính già kể tôi đã thuộc và tìm thấy mình lớn lên từ đó để hôm nay tôi tiếp bước cha ông, để được học tập ở môi trường quân đội: Trường quân sự Moskva nơi đó sẽ cho tôi cơ hội rèn luyện, học hỏi, tiếp thu những công nghệ quân sự tiên tiến nhất, mang về phụng sự Tổ quốc Việt quê hương yêu dấu của tôi.