
PV
Đền thờ Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Tống Trân tại xã Tống Trân, tỉnh Hưng Yên là di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia, nơi hội tụ linh khí, truyền thống và niềm tự hào về một bậc hiền tài kiệt xuất của dân tộc Việt Nam - Đức Thánh Tống Trân, người được muôn đời tôn vinh là “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên”. Không chỉ là chốn tôn nghiêm thờ phụng danh nhân, nơi đây còn là biểu tượng rạng ngời của tinh thần hiếu học, lòng yêu nước, đạo hiếu sâu nặng và nghĩa tình thủy chung son sắt của con người Việt Nam.
Theo huyền sử, tương truyền vào thời vua Lý Nam Đế ở xã An Đô, tổng Võng Phan, huyện Phù Dung (nay là thôn An Cầu, xã Tống Trân, tỉnh Hưng Yên) có một người họ Tống tên gọi Thiệu Công thuộc dòng dõi thi thư, trong gia đình hiếu lễ, ngoài xã hội khoan hòa. Tống Thiệu Công lấy vợ là bà Đào Thị Cuông thuộc xã Phù Oanh tổng Kim Phương, gia đình gia phong bề thế, hai vợ chồng sống rất nhân từ, thuận hòa, tu nhân tích đức làm nhiều việc thiện, nhưng hiềm một lỗi hiếm muộn đồng tử tôn; mãi đến tuổi lục tuần hai người mới có con; bà Đào Thị Cuông mang thai đến giờ Dần, ngày rằm, tháng tư năm Bính Ngọ (526) mới sinh hạ được một quý tử mặt mũi khôi ngô, tuấn tú, đặc biệt suốt ba ngày đêm trong nhà luôn tỏa ánh hào quang, hai ông bà rất vui mừng bèn đặt tên cho con là Tống Trân.
Khi Tống Trân lên 3 tuổi, Tống Thiệu Công lâm bệnh trọng qua đời; từ đây gia cảnh ngày càng sa sút, khó khăn; vì cuộc sống mưu sinh người đã cùng mẫu thân đi khắp thiên hạ cầu thực. Một hôm, Tống Trân lang thang hành khất vào ăn xin ở một gia đình Phú ông giàu có, nổi tiếng một vùng nhưng rất keo kiệt và gian ác, khi thấy mẹ con Tống Trân họ liền đuổi đi và không ngớt lời chửi mắng.
Phú ông có người con gái tên gọi Cúc Hoa là một người nhân ái và giàu tình thương, bà có tấm lòng bao dung, nên đã lén lút đem cơm, gạo cho mẹ con chàng nhưng bị phú ông bắt gặp; trong cơn tức giận phú ông liền từ con và đuổi nàng đi. Từ đây mẹ con Tống Trân đã đưa nàng Cúc Hoa đi cùng; ngày qua ngày bà Cúc Hoa tần tảo nuôi mẹ và nuôi chàng ăn học. Tống Trân với tư chất thông minh, hiếu học ngày đêm đèn sách, dùi mài kinh sử chờ đến kỳ thi;
Năm (544-548), vua Lý Nam Đế mở khoa thi chọn nhân tài; Tống Trân vào kinh ứng thi, cả ba kỳ thi đều đỗ thủ khoa, Trạng Nguyên được vua ban khen rằng “Quốc sỹ vô song Quốc tài quả Nhị” nghĩa là: Kẻ sĩ cả nước chỉ có một tướng tài không có người thứ hai.
Vua ban cho cờ biển, một ngàn vuông gấm và mười đĩnh vàng cho về quê nhà Vinh quy bái tổ, bái yết tổ tông, thăm hai bên nội, ngoại và khao vọng dân làng, sau đó Tống Trân hỏi cưới Cúc Hoa làm vợ.
Tống Trân dựng nhà ở làng Phù Oanh (quê ngoại) cho Mẹ và vợ ở rồi trở lại kinh thành giúp vua trông coi việc nước; song với tài thao lược kinh bang tế thế, Người được vua cử đi sứ 10 năm; bên Bắc quốc với vai trò là sứ thần nước Việt người không những giúp vua gìn giữ được mối giao hòa hai nước, mà còn giúp vua nước Tàu giải quyết nhiều công việc lớn thể hiện con người thao lược trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, ông được vua cùng các nước chư hầu nể phục. Vua sứ Bắc nhiều lần thử tài Tống Trân nhưng quan Trạng đều ứng đối trôi chảy, xử thế mưu trí được Vua tàu khen là nhân tài thứ nhất trong 18 nước chư hầu và phong làm “Lưỡng quốc Trạng Nguyên”;
Trong 10 năm đi sứ, nàng Cúc Hoa ở nhà vẫn một lòng hiếu thuận và chăm sóc mẹ chồng chu đáo. Nàng vẫn ngày đêm mong ngóng tin chồng, giữ trọn tình thủy chung son sắc, chờ ngày Tống Trân về để gia đình được đoàn tụ.
Sau khi hoàn thành công việc đi sứ, Tống Trân tiếp tục giúp vua trông coi việc nước và làm quan đến chức “Phụ chính Đại thần” đến năm 60 tuổi ông mới dâng biểu cáo xin vua cho về quê nhà nghỉ ngơi mở lớp dạy học cho dân nghèo và làm thuốc chữa bệnh cứu người. Năm năm sau, ông mắc bệnh và viên tịch tại quê nhà vào năm Tân Hợi (591).
Do có nhiều công lao giúp nước, ông được Triều đình phong là “Thượng đẳng tối linh phụ quốc, Tống Trân Đại Vương”, và được truy phong làm “Thượng đẳng phúc thần”; vua ra sắc chỉ ban mười ba mẫu ruộng đắc điền lâm hậu và cho lập đền thờ để nhân dân địa phương thờ cúng hàng năm.
Cuộc đời và sự nghiệp của Đức thánh Tống Trân là bản hùng ca bất diệt về lòng trung với nước, hiếu với cha mẹ, nghĩa với gia đình và khát vọng cống hiến cho quốc gia, xã tắc. Hình tượng của ông đã trở thành tấm gương sáng ngời cho muôn thế hệ noi theo về ý chí vượt khó, tinh thần hiếu học và đạo lý làm người.
Hàng năm, vào trung tuần tháng Tư âm lịch, lễ hội truyền thống Đền Tống Trân được tổ chức trang trọng, trở thành nét đẹp văn hóa đặc sắc của quê hương Hưng Yên. Đây là dịp để Nhân dân và du khách thập phương thành kính tri ân công đức Trạng nguyên Tống Trân, đồng thời gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Năm 2021, lễ hội được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, khẳng định tầm vóc và giá trị trường tồn của di sản.
Ngày nay, Đền Tống Trân không chỉ là điểm đến tâm linh thiêng mà còn là biểu tượng giáo dục sâu sắc về truyền thống hiếu học, vượt khó thành tài và khát vọng cống hiến. Mỗi dịp lễ hội, Tết Nguyên đán, mùa thi cử hay các ngày trọng lễ, đông đảo học sinh, phụ huynh cùng du khách muôn phương lại tìm về dâng hương, cầu mong học hành tấn tới, thi cử đỗ đạt, công thành danh toại. Nơi đây đã trở thành điểm tựa tinh thần, hun đúc niềm tin, ý chí và khát vọng vươn lên cho biết bao thế hệ.
Đền thờ Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Tống Trân mãi mãi là niềm tự hào của Hưng Yên và của cả dân tộc Việt Nam, một di sản văn hóa thiêng liêng góp phần bồi đắp, lưu truyền những phẩm chất cao quý của con người Việt: Vượt khó thành tài, hiếu học bền chí, Trung với nước, Hiếu với cha mẹ, trọng Lễ, vẹn Nghĩa vợ chồng.
Trải qua hàng trăm năm lịch sử, Lễ hội Đền Tống Trân đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống đặc sắc của quê hương. Đây không chỉ là dịp để Nhân dân tưởng nhớ công lao của Đức Thánh Tống Trân và phu nhân Cúc Hoa, mà còn là dịp giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, bồi đắp tinh thần đoàn kết cộng đồng, khơi dậy niềm tự hào về quê hương, đất nước.